Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 149-HĐBT được ban hành năm 1992 bởi Hội đồng Bộ trưởng, quy định chi tiết về chế độ tạm giữ, tạm giam đối với những người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Quy định này áp dụng đối với tất cả các cá nhân bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam thuộc lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Riêng chế độ đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam sẽ được quy định bằng văn bản riêng biệt.

Tổ chức và quản lý hệ thống nhà tạm giữ, trại tạm giam

  • Mỗi huyện, quận và cấp hành chính tương đương được tổ chức một nhà tạm giữ do Trưởng nhà tạm giữ phụ trách. Trại tạm giam do Trưởng trại tạm giam phụ trách và có một số Phó trưởng trại giúp việc. Các cán bộ phụ trách có trách nhiệm quản lý và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về chế độ giam giữ.
  • Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc giải thể các nhà tạm giữ, trại tạm giam, đồng thời quy định mẫu thiết kế diện tích dựa trên số lượng người bị giam giữ. Cơ sở giam giữ phải bảo đảm an toàn, chắc chắn và có nhiều loại buồng để phục vụ việc phân loại, giam giữ riêng biệt.
  • Mỗi trại tạm giam phải xây dựng một bệnh xá hoặc trạm xá riêng để phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam.
  • Kinh phí phục vụ cho việc cải tạo, sửa chữa, xây dựng mới cơ sở giam giữ cũng như mua sắm phương tiện giam giữ, ăn ở, chữa bệnh do Bộ Tài chính cấp theo dự toán hàng năm của Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng.

Trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ quản lý

  • Chỉ được tiếp nhận tạm giữ, tạm giam hoặc cho xuất trại khi có lệnh hoặc quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.
  • Có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ thời hạn giam giữ và thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền trước khi hết hạn: trước 01 ngày đối với trường hợp tạm giữ; trước 20 ngày (lần thứ nhất) và trước 10 ngày (lần thứ hai) đối với trường hợp tạm giam.
  • Khi nhận được đơn, thư khiếu nại, tố cáo của người bị giam giữ phải giải quyết theo thẩm quyền hoặc chuyển ngay cho cơ quan có trách nhiệm giải quyết.
  • Khi thi hành kỷ luật đối với người vi phạm phải ra quyết định bằng văn bản, ghi rõ lý do và hình thức kỷ luật để lưu vào hồ sơ theo dõi.
  • Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam tử vong, Trưởng nhà tạm giữ hoặc Trưởng trại tạm giam phải mời bác sĩ pháp y và Kiểm sát viên đến khám nghiệm, lập biên bản theo thủ tục tố tụng hình sự, đồng thời thông báo cho cơ quan ra lệnh giam giữ và thân nhân của người chết biết.

Chế độ phân loại và giam giữ nghiêm ngặt

  • Tuyệt đối không giam giữ chung người bị tạm giữ với người bị tạm giam trong cùng một buồng. Không đưa người bị tạm giữ theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính vào chung buồng với người bị tạm giữ, tạm giam hình sự.
  • Bắt buộc phải bố trí buồng giam riêng biệt đối với các đối tượng sau:
    • Buồng giam riêng từng người đối với người bị Toà án xử phạt tử hình.
    • Buồng giam riêng theo từng loại đối với: người chưa thành niên; phụ nữ; người mắc bệnh truyền nhiễm; đối tượng lưu manh, côn đồ hung hãn, phạm tội cướp tài sản, giết người, tái phạm nguy hiểm; và người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia.
  • Những người là đồng phạm trong cùng một vụ án đang điều tra không được giam chung một buồng, nhưng có thể giam chung với những người thuộc các vụ án khác.
  • Số lượng phạm nhân đã thành án được giữ lại để phục vụ công việc nấu ăn, vệ sinh, sửa chữa trại không được quá 15% tổng số người bị tạm giam của trại đó. Chỉ giữ lại những phạm nhân có mức án từ 5 năm tù trở xuống và không thuộc nhóm tội phạm nguy hiểm, côn đồ hay tái phạm.

Chế độ sinh hoạt, ăn ở và chăm sóc y tế

  • Chế độ ăn uống: Người bị tạm giữ, tạm giam được hưởng định lượng ăn hàng tháng do Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Tài chính quy định, bảo đảm mức sống cần thiết cho họ.
  • Chế độ mặc và đồ dùng cá nhân: Được sử dụng quần áo, chăn màn cá nhân mang theo. Nếu không có, cơ sở giam giữ sẽ cho mượn.
  • Chỗ nằm: Được bố trí chỗ nằm bằng phản gỗ hoặc bệ xi măng có chiếu, diện tích bình quân tối thiểu đạt 2m² cho mỗi người.
  • Chăm sóc sức khỏe: Khi đau ốm được khám và điều trị tại bệnh xá hoặc trạm xá của trại. Trường hợp bệnh nặng sẽ được chuyển đến điều trị tại các bệnh viện của Nhà nước. Nếu tử vong, việc mai táng được thực hiện theo quy định chung của Nhà nước.

Quyền lợi, nghĩa vụ và kỷ luật đối với người bị giam giữ

  • Được quyền khiếu nại, tố cáo về việc giam giữ trái pháp luật hoặc việc thực hiện không đúng chế độ giam giữ.
  • Được nhận và gửi thư cho gia đình, nhận đồ tiếp tế, quần áo, chăn màn, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cần thiết từ thân nhân (trừ rượu, bia, thuốc phiện, hàng xa xỉ, sách báo đồi trụy, phản động), với điều kiện không gây trở ngại cho công tác điều tra, xét xử.
  • Được gặp thân nhân gia đình dưới sự giám sát của nhân viên cơ sở giam giữ nếu được cơ quan điều tra xác nhận không gây ảnh hưởng đến vụ án.
  • Được nghe đài truyền thanh và đọc các loại báo chí của Nhà nước.
  • Nghiêm cấm mang các vật dụng cấm như vũ khí, vật kim loại vào buồng giam. Tiền bạc, tài sản mang theo phải ký gửi tại bộ phận lưu ký của trại và được thanh toán, trả lại khi ra trại (nếu làm mất hoặc hư hỏng, trại phải bồi thường).
  • Người chấp hành tốt nội quy, kỷ luật và lập công xuất sắc sẽ được đề nghị xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình thức xử lý, xét xử.
  • Người có hành vi vi phạm nội quy tùy theo mức độ sẽ bị xử lý bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt giam tại buồng kỷ luật từ 2 đến 15 ngày. Nếu phạm tội mới trong thời gian giam giữ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Hiệu lực thi hành: Nghị định 149-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các văn bản trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành; Bộ trưởng các Bộ: Nội vụ, Quốc phòng và các Bộ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 149-HĐBT

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 1992

NGHỊ ĐỊNH

CUẢ HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 149-HĐBT NGÀY 5-5-1992BAN HÀNH "QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TẠM GIỮ, TẠM GIAM"

HỘIĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này "Quy định về chế độ tạm giữ, tạm giam" đối với những người bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 2. - Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Những văn bản trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.

Điều 3. - Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Nghị định này.

Điều 4. - Bộ trưởng các Bộ: Nội vụ, Quốc phòng và các Bộ có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TẠM GIỮ, TẠM GIAM
(Ban hành kèm theo Nghị định số 149-HĐBT ngày 5 tháng 5 năm 1992của Hội đồng Bộ trưởng)

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. - Việc giam, giữ người bị tạm giữ, tạm giam phải đúng pháp luật, đúng chế độ; phải quản chế nghiêm, đồng thời bảo đảm tính nhân đạo để phục vụ yêu cầu điều tra xử lý các vụ án.

Điều 2. - Những người bị tạm giữ, tạm giam phải được tạm giữ, tạm giam tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam theo quy định của Bộ Nội vụ.

Chương 3:

TỔ CHỨC NHÀ TẠM GIỮ , TRAỊ TẠM GIAM

Điều 3. - Mỗi huyện, quận và cấp hành chính tương đương được tổ chức một nhà tạm giữ. Nhà tạm giữ ở cấp huyện, quận có một số buồng để tạm giam những người có lệnh tạm giam thuộc thẩm quyền điều tra, xét xử của cấp huyện, quận. Nhà tạm giữ cấp huyện, quận do công an huyện, quận quản lý.

Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được tổ chức 1 hoặc 2 trại giam để tạm giam những người đã có lệnh tạm giam. Trại tạm giam có một số buồng để tạm giữ những người có lệnh tạm giữ. Trại tạm giam tỉnh, thành phố do công an tỉnh, thành phố quản lý.

Bộ Nội vụ tổ chức và quản lý các nhà tạm giữ, trại tạm giam để tạm giữ, tạm giam những người thuộc thẩm quyền điều tra của mình.

Điều 4. - Việc tổ chức các nhà tạm giữ ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và cấp tương đương, trại tạm giam thuộc các cấp Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương; trại tạm giam ở Cục điều tra hình sự Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định theo quy định chung của Bộ Nội vụ.

Điều 5. - Nhà tạm giữ do Trưởng nhà tạm giữ phụ trách, trại tạm giam do Trưởng trại tạm giam phụ trách và có một số Phó trưởng trại giúp việc, Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam có trách nhiệm quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam và phải chấp hành đầy đủ những quy định của pháp luật về chế độ tạm giữ, tạm giam.

Điều 6. - Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định thành lập hoặc giải thể các nhà tạm giữ, trại tạm giam và quy định mẫu thiết kế diện tích theo số lượng người bị tạm giữ, tạm giam cho từng nhà tạm giữ, trại tạm giam. Việc xây dựng các nhà tạm giữ, trại tạm giam phải đảm bảo yêu cầu an toàn, chắc chắn, có nhiều loại buồng để phục vụ cho việc tạm giữ, tạm giam riêng từng người, từng loại người.

Mỗi trại tạm giam được xây dựng một bệnh xá hoặc trạm xá để khám và chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam.

Điều 7. - Kinh phí phục vụ cho việc cải tạo sửa chữa và xây dựng mới nhà tạm giữ, trại tạm giam; mua sắm các phương tiện giam, giữ, ăn ở, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, tạm giam do Bộ Tài chính cấp theo dự trù hàng năm của Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng.

Chương 3:

TRÁCH NHIỆM, QUYỀN HẠN CUẢ CÁN BỘ QUẢN LÝ NHÀ TẠM GIỮ , TRẠI TẠMGIAM

Điều 8. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam chỉ được nhận tạm giữ, tạm giam hoặc cho xuất trại những người bị tạm giữ, tạm giam khi có lệnh hoặc quyết định của người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

Điều 9. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ và kịp thời, thông báo bằng văn bản trước khi hết hạn tạm giữ, tạm giam cho những cơ quan có thẩm quyền đã ra lệnh tạm giữ, tạm giam:

a) Một ngày trước khi hết thời hạn tạm giữ.

b) Thông báo trước khi hết thời hạn tạm giam:

- Lần thứ nhất trước khi hết thời hạn 20 ngày.

- Lần thứ 2 trước khi hết hạn 10 ngày.

Điều 10. - Không được giữ người bị tạm giữ chung với người bị tạm giam trong cùng một buồng; không được đưa người bị tạm giữ theo Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính vào giữ chung một buồng với người bị tạm giữ, tạm giam.

Điều 11. - Phải tạm giữ, tạm giam tại buồng riêng đối với những loại người phạm tội sau:

a) Buồng giam từng người:

Những người bị Toà án xử phạt tử hình.

b) Buồng tạm giữ, tạm giam từng loại người:

- Người phạm tội là vị thành niên.

- Người phạm tội là nữ.

- Người phạm tội có bệnh truyền nhiễm.

- Người phạm tội thuộc loại lưu manh, côn đồ hung hãn; phạm các tội cướp của, giết người, tái phạm nguy hiểm.

- Người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia.

c) Những người trong cùng một vụ án đang điều tra không được giam chung một buồng nhưng được giam chung với những người trong các vụ án khác.

Điều 12. - Số phạm nhân thành án được để lại không quá 15% so với tổng số người bị tạm giam quy định cho trại tạm giam đó để phục vụ cho việc nấu ăn, làm vệ sinh, sửa chữa trại. Chỉ được để lại những phạm nhân thành án, không phạm các tội cướp, giết người, không phải là loại lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, tái phạm và phải là những phạm nhân có mức án phạt tù từ 5 năm trở xuống.

Điều 13. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam khi nhận được đơn, thư khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ, tạm giam phải giải quyết theo thẩm quyền hoặc chuyển ngay cho cơ quan có trách nhiệm để giải quyết.

Điều 14. - Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam khi thi hành kỷ luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam phải ra quyết định bằng văn bản, ghi rõ lý do và hình thức kỷ luật. Văn bản này phải lưu vào hồ sơ của người đó để theo dõi.

Điều 15. - Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết, Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng trại tạm giam phải mời bác sĩ pháp y và Kiểm sát viên đến khám nghiệm và lập biên bản theo thủ tục tố tụng hình sự, đồng thời phải thông báo cho cơ quan ra lệnh tạm giữ hoặc tạm giam và thân nhân người bị tạm giữ, tạm giam biết.

Chương 4:

CHẾĐỘSINH HOẠT, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, TẠM GIAM

Điều 16. - Người bị tạm giữ, tạm giam được hưởng mức ăn theo định lượng hàng tháng do Bộ Nội vụ cùng Bộ Tài chính quy định bảo đảm mức sống cần thiết cho họ.

Điều 17. - Người bị tạm giữ, tạm giam trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam được sử dụng quần áo, chăn màn của mình mang theo, nếu không có thì nhà tạm giữ, trại tạm giam sẽ cho mượn.

Điều 18. - Người bị tạm giữ, tạm giam được bố trí chỗ nằm bằng phản gỗ hoặc bệ đổ xi-măng, có chiếu, diện tích bình quân chỗ nằm của một người tối thiểu là 2m2.

Điều 19. - Người bị tạm giữ, tạm giam khi ốm đau được khám và chữa bệnh tại bệnh xá hoặc trạm xá của trại, nếu ốm đau nặng được điều trị tại các bệnh viện của Nhà nước.

Người bị tạm giữ, tạm giam bị chết được mai táng theo quy định chung của Nhà nước.

Điều 20. - Người bị tạm giữ, tạm giam được quyền khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam trái pháp luật hoặc không thực hiện đúng chế độ tạm giữ, tạm giam.

Điều 21. - Người bị tạm giữ, tạm giam được nhận thư và gửi thư cho gia đình, được nhận đồ tiếp tế, quần áo, chăn màn, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cần thiết (trừ rượu, bia, thuốc phiện, hàng xa xỉ phẩm, sách báo đồi truỵ, phản động) của gia đình, nếu việc gửi, nhận đó không gây trở ngại cho việc điều tra, xét xử án. Cán bộ quản lý nhà tạm giữ, trại tạm giam, phối hợp với cơ quan điều tra giải quyết theo nội quy của trại.

Nếu xét thấy không trở ngại cho việc điều tra, xét xử thì người bị tạm giữ, tạm giam được gặp thân nhân gia đình có sự giám sát của nhân viên nhà tạm giữ, trại tạm giam.

Điều 22. - Nghiêm cấm người bị tạm giữ, tạm giam đem những vật cấm như vũ khí, những vật bằng kim loại... vào buồng tạm giữ, tạm giam. Tài sản, tiền bạc của người bị tạm giữ, tạm giam phải ký gửi ở bộ phận lưu ký của nhà tạm giữ, trại tạm giam và được phép sử dụng theo nội quy của trại, khi ra trại được thanh toán và trả lại những thứ còn lại. Nếu trại để mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường.

Điều 23. - Người bị tạm giữ, tạm giam được nghe đài truyền thanh và đọc báo của Nhà nước.

Điều 24. - Người bị tạm giữ, tạm giam chấp hành tốt nội quy, kỷ luật của nhà tạm giữ, trại tạm giam và có thành tích xuất sắc sẽ được đề nghị xem xét khi quyết định hình thức xử lý, xét xử.

Điều 25. - Người bị tạm giữ, tạm giam nếu phạm tội mới, ngoài hình thức kỷ luật của trại còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Người bị tạm giữ, tạm giam nếu có hành vi vi phạm nội quy của nhà tạm giữ, trại tạm giam thì tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý bằng các hình thức sau:

- Cảnh cáo.

- Phạt giam ở buồng kỷ luật từ 2 đến 15 ngày.

Điều 26. - Chế độ đối với người nước ngoài bị tạm giữ, tạm giam sẽ được quy định riêng.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 149-HĐBT năm 1992 Quy định chế độ tạm giữ, tạm giam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 149-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 05/05/1992
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày công báo: 31/05/1992
Số công báo: Số 10
Ngày hiệu lực: 05/05/1992
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Trách nhiệm hình sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 149-HĐBT năm 1992 Quy định chế độ t...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký