Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 151-TTg năm 1959 do Hội đồng Chính phủ ban hành quy định tạm thời về việc trưng dụng ruộng đất nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu xây dựng các công trình do Nhà nước quản lý, đồng thời bảo đảm chiếu cố đúng mức đến quyền lợi và đời sống của người dân có ruộng đất bị trưng dụng.

Về phạm vi và đối tượng áp dụng, Nghị định này được thi hành tại vùng đồng bằng và trung du. Đối với các khu tự trị, Ủy ban hành chính khu tự trị căn cứ vào các nguyên tắc chung của Nghị định để xây dựng thể lệ riêng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; trong thời gian chưa có thể lệ riêng thì áp dụng linh hoạt theo quy định chung này. Đối với các công trình thuộc lợi ích riêng của từng địa phương, việc lấy ruộng đất không áp dụng hình thức trưng dụng của Nhà nước mà thực hiện trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa cơ quan phụ trách địa phương và người sở hữu đất.

Dưới đây là nội dung chi tiết các chính sách và quy định cốt lõi về trưng dụng ruộng đất được ban hành kèm theo Nghị định:

Nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất
  • Bảo đảm hiệu quả và đời sống nhân dân: Việc trưng dụng phải bảo đảm kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình, đồng thời phải bồi thường thỏa đáng và giúp đỡ người dân giải quyết việc làm ăn trong trường hợp cần thiết.
  • Triệt để tiết kiệm đất đai: Chỉ được trưng dụng đúng diện tích cần thiết, tuyệt đối không trưng dụng thừa. Phải hết sức tiết kiệm đất canh tác, tận dụng tối đa đất hoang. Chỉ tiến hành giao nhận ruộng đất khi bắt đầu thi công để tránh bỏ hoang; đối với đất đang có hoa màu chưa thu hoạch, cần tạo điều kiện để người dân thu hoạch xong mới bàn giao.
  • Hạn chế ảnh hưởng đến khu vực đặc thù: Tránh trưng dụng đất tại các khu dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa, đền. Trường hợp đặc biệt bắt buộc phải sử dụng thì phải bàn bạc kỹ với nhân dân địa phương. Các danh lam thắng cảnh trong khu vực xây dựng phải được bảo tồn chu đáo; trường hợp không thể giữ gìn phải được sự đồng ý của Bộ Văn hóa và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Thẩm quyền quyết định trưng dụng ruộng đất
  • Thủ tướng Chính phủ quyết định: Đối với các công trình cần trưng dụng từ 10 mẫu tây ruộng đất trở lên hoặc yêu cầu phải di dời nhà cửa từ 20 hộ gia đình trở lên. Trường hợp này phải thông qua Ủy ban kế hoạch Nhà nước xét duyệt (hoặc Bộ Quốc phòng xét duyệt đối với công trình quốc phòng) trước khi trình Thủ tướng.
  • Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố hoặc khu quyết định: Đối với các công trình cần diện tích dưới 10 mẫu tây hoặc yêu cầu di dời dưới 20 hộ gia đình.
  • Trường hợp khẩn cấp: Trong các tình huống cấp bách như chống lụt, chống hạn, chống giặc, Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố, khu hoặc Bộ tư lệnh quân khu có quyền ra lệnh trưng dụng ngay để giải quyết nhu cầu trước mắt, sau đó hoàn thiện các thủ tục pháp lý theo quy định.
Thời hạn thông báo trước khi trưng dụng

Người có ruộng đất bị trưng dụng phải được cơ quan nhà nước báo trước một khoảng thời gian là hai tháng để chủ động di chuyển và sắp xếp cuộc sống. Thời gian này có thể rút ngắn hơn trong các trường hợp khẩn cấp hoặc có nhu cầu xây dựng cấp thiết được Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố hoặc khu công nhận.

Quyền sở hữu và xử lý đất sau trưng dụng
  • Ruộng đất sau khi trưng dụng hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.
  • Trường hợp đất đã trưng dụng nhưng sau đó không tiến hành xây dựng hoặc không sử dụng hết diện tích, cơ quan trưng dụng có thể thương lượng để trả lại toàn bộ hoặc một phần ruộng đất cho người chủ cũ.
  • Nếu diện tích đất còn lại của người bị trưng dụng quá ít và họ có nguyện vọng chuyển đi nơi khác làm ăn, Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố hoặc khu có thể xem xét quyết định trưng dụng luôn phần diện tích còn lại đó theo đề nghị của họ.
Chính sách bồi thường và hỗ trợ người dân

Việc bồi thường do Ủy ban hành chính xã phối hợp với đại diện Ban chấp hành nông hội xã, đại diện cơ quan sử dụng đất và người có đất bị trưng dụng bàn bạc, đề xuất phương án lên Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố hoặc khu phê duyệt theo các nguyên tắc sau:

  • Bồi thường bằng đất: Phương thức tối ưu là vận động nông dân địa phương điều chỉnh hoặc nhường diện tích ruộng đất khác cho người bị trưng dụng để họ tiếp tục sản xuất ổn định.
  • Bồi thường bằng tiền: Nếu không thể bồi thường bằng đất, Nhà nước bồi thường một khoản tiền tương đương từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của thửa đất bị trưng dụng. Mức bồi thường cụ thể dựa trên tình hình thực tế về đời sống, quỹ đất và chất lượng đất tại địa phương. Đối với đất bị đào sâu để làm đường, đắp đập, mức bồi thường tối đa không quá 2 năm sản lượng thường niên. Đất chuyên trồng cây ăn quả hoặc cây công nghiệp lâu năm được áp dụng mức bồi thường cao hơn đất trồng hoa màu thông thường.
  • Hỗ trợ di dời nhà cửa, công trình: Người phải di dời nhà cửa, giếng nước được hỗ trợ kinh phí và điều kiện để xây dựng lại công trình mới ở nơi khác.
  • Bồi thường hoa màu: Hoa màu đã trồng trên đất trưng dụng chưa đến kỳ thu hoạch mà bắt buộc phải phá hủy thì phải được bồi thường đúng giá trị thiệt hại thực tế.
  • Đối với đất tôn giáo: Nếu trưng dụng đất dùng vào việc cúng lễ của các tổ chức tôn giáo thì phải đền bù bằng thửa đất khác. Trường hợp không có đất thay thế, phải bàn bạc thống nhất phương án bồi thường với đại diện tổ chức tôn giáo và giáo dân.
  • Đối với đất thuộc hợp tác xã nông nghiệp: Phương án bồi thường phải được đưa ra thảo luận dân chủ tại đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên để thống nhất mức bồi thường phù hợp, tránh ảnh hưởng đến đời sống chung của xã viên.
  • Đối với đất công do dân đang sử dụng: Cơ quan trưng dụng phải thông báo trước khi vào thời vụ. Nếu trưng dụng đột xuất, phải bồi thường chi phí hạt giống, công cày cấy, trồng trọt và có biện pháp hỗ trợ người dân ổn định đời sống, sản xuất.
  • Di dời mồ mả: Cơ quan sử dụng đất phải thông báo và định thời hạn cho thân nhân di dời mồ mả, đồng thời hỗ trợ một khoản chi phí di chuyển hợp lý theo phong tục địa phương. Đối với mồ mả vô chủ, cơ quan sử dụng đất chịu trách nhiệm di dời chu đáo.
  • Sử dụng đất tạm thời: Trường hợp cần mượn đất tạm thời ngoài phạm vi công trình để làm bãi tập kết vật liệu, đường vận chuyển, cơ quan xây dựng phải chủ động thương lượng trực tiếp với người có ruộng đất.
  • Chi trả bồi thường: Khoản tiền bồi thường do cơ quan có nhu cầu sử dụng đất chi trả trực tiếp cho người có đất bị trưng dụng hoặc người đại diện, người thừa kế hợp pháp của họ.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và bãi bỏ toàn bộ các quy định trước đây trái với Nghị định này. Ủy ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ có trách nhiệm ban hành các hướng dẫn chi tiết và phối hợp cùng các cơ quan liên quan tổ chức thi hành nghiêm túc các điều khoản quy định tại Nghị định.

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
********

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 151-TTg

Hà Nội, ngày 14 tháng04 năm 1959

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 151-TTg NGÀY 14 THÁNG04 NĂM 1959 QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ TRƯNG DỤNG RUỘNG ĐẤT

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Theo đề nghị của ông Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Căn cứ vào Nghị quyết của Hội nghị thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 17 -12 -1958.

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1: Để đáp ứng nhu cầu xây dựng của Nhà nước, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi của người có ruộng đất, nay quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất cần thiết cho việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý như sau:

Đối với những công trình thuộc lợi ích của từng địa phương mà địa phương xây dựng, thì việc lấy ruộng đất do cơ quan phụ trách địa phương cùng những người sở quan giải quyết trên cơ sở cùng nhau thương lượng và thoả thuận.

Chương 1:

NGUYÊN TẮC CHUNG, QUYỀN HẠN VÀ THỦ TỤC TRƯNG DỤNG RUỘNG ĐẤT

Điều 2: Việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân dùng vào việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý phải căn cứ vào những nguyên tắc sau đây:

a) Đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất. Những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công việc làm ăn.

b) Chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng dụng thừa. Hết sức tiết kiệm ruiộng đất cày cấy, trồng trọt; tận dụng những đất hoang để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân. Nói chung, khi bắt đầu thi công mới giao nhận ruộng đất trưng dụng, không giao nhận trước rồi bỏ hoang. Đối với ruộng đất có trồng trọt mà chưa thu hoạch, nên cố gắng thu xếp để khi thu hoạch xong mới giao nhận.

c) Hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa, đền. Trường hợp đặc biệt phải làm vào những nơi đó, thì phải bàn bạc kỹ với nhân dân địa phương. Những danh lam thắng cảnh nằm trong khu vực xây dựng phải được giữ gìn và cần bảo tồn chu đáo. Trường hợp đặc biệt không thể giữ gìn được thì phải được Bộ Văn hoá đồng ý và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Điều 3: Sau khi bàn bạc với Uỷ ban hành chính, Nông hội địa phương và những người có ruộng đất bị trưng dụng, cơ quan cần lấy ruộng đất để xây dựng làm đề nghị lên cấp có thẩm quyền quyết định trưng dụng. Các cấp có thẩm quyền quyết định trưng dụng ruộng đất để xây dựng là:

- Đối những công trình cần từ 10 mẫu tây ruộng đất trở lên hoặc đòi hỏi phải dời nhà cửa của nhân dân từ 20 gia đình trở lên, thì việc trưng dụng phải được Uỷ ban kế hoạch Nhà nước xét (hoặc Bộ quốc phòng xét đối với các công trình xây dựng quốc phòng) và trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

- Đối với những công trình cần một diện tích dưới 10 mẫu tây hoặc đòi hỏi phải dời nhà cửa của nhân dân dưới 20 gia đình thì do Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố hoặc khu quyết định.

Trong trường hợp khẩn cấp như chống lụt, chống hạn, chống giặc.. Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố hoặc khu, Bộ tư lệnh quân khu được quyền ra lệnh trưng dụng ruộng đất của nhân dân để kịp thời giải quyết những nhu cầu cấp bách và sẽ làm các thủ tục sau.

Điều 4: Những người có ruộng đất bị trưng dụng cần được báo trước một thời gian là hai tháng để kịp di chuyển, trừ trường hợp khẩn cấp, hoặc có nhu cầu cấp thiết xây dựng công trình và được Uỷ ban hành chính tỉnh , thành phố hoặc khu công nhận, thời gian báo trước có thể rút ngắn hơn.

Điều 5: Ruộng đất đã trưng dụng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước .

Trường hợp đã trưng dụng ruộng đất, mà sau vì lý do gì không xây dựng nữa hoặc không dùng hết, thì cơ quan trưng dụng có thể thương lượng để trả lại toàn bộ hoặc một phần ruộng đất cho người có ruộng đất.

Trường hợp số ruộng đất còn để lại cho người bị trưng dụng quá ít và người này muốn chuyển đi nơi khác làm ăn, thì theo đề nghị của họ, Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố hoặc khu có thể chuẩn y trưng dụng cả số ruộng đất còn lại.

Chương 2:

BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI CÓ RUỘNG ĐẤT BỊ TRƯNG DỤNG

Điều 6: Uỷ ban hành chính xã cùng với đại diện ban chấp hành nông hội xã, đại diện của cơ quan cần dùng ruộng đất và người có ruộng đất hoặc đại biểu của họ cử ra bàn bạc việc bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng, và đề nghị cách giải quyết theo những nguyên tắc dưới đây; đề nghị đó sẽ báo cáo lên Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố hoặc khu quyết định.

a) Cách bồi thường tốt nhất là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhường ruộng đất khác cho người có ruộng đất bị trưng dụng để họ có thể tiếp tục sản xuất.

b) Trường hợp không làm được như vậy sẽ bồi thường một số tiền bằng từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng dụng. Mức bồi thường nhiều hay ít phải căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi: đời sống của nhân dân cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định. Đối với ruộng đất bị đào để tu bổ đường xá, làm đập v.v... thì tuỳ theo đất bị đào sâu hay nông, sản lượng bị giảm nhiều hay ít mà định mức bồi thường nhưng không quá 2 năm sản lượng thường niên. Nếu ruộng đất bị trưng dụng chuyên trồng nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp lưu niên thì số bồi thường tính cao hơn đối với các hoa màu khác.

c) Nếu phải dời nhà, giếng nước đi nơi khác, thì người có nhà, giếng nước được giúp đỡ để xây dựng cái khác.

d) Hoa màu đã trồng mà chưa thu hoạch, phải phá huỷ trên ruộng đất bị trưng dụng, phải được bồi thường đúng mức.

đ) Trường hợp cần thiết phải trưng dụng ruộng đất dùng vào việc cúng lễ của các tổ chức tôn giáo, thì phải bù lại ruộng đất khác. Nếu không có ruộng đất thì phải bàn bạc với đại biểu các tổ chức tôn giáo và nhân dân theo các tôn giáo ấy để bồi thường.

e) Nếu ruộng đất bị trưng dụng thuộc một hợp tác xã nông nghiệp thì vấn đề bồi thường sẽ đưa ra thảo luận tại đại hội xã viên hoặc đại hội đại biểu xã viên. Nếu đại hội nhận định có khả năng thu xếp để trưng dụng không ảnh hưởng đến đời sống của xã viên và không cần bồi thường, hoặc chỉ bồi thường một phần nào, thì Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố hoặc khu sẽ căn cứ vào ý kiến đó mà quyết định về bồi thường.

Điều 7: Khi cần lấy lại ruộng đất công do nhân dân sử dụng thì cơ quan cần ruộng đất phải báo cho người sử dụng ruộng đất biết trước khi làm thời vụ. Nếu không báo trước được mà phải trưng dụng ngay thì cơ quan cần ruộng đất phải bồi thường tiền giống và công cấy cày trồng trọt cho người bị thiệt hại, trường hợp cần thiết, phải có biện pháp giúp đỡ họ tiếp tục sản xuất và sinh sống.

Điều 8: Trường hợp trên ruộng đất dùng vào việc xây dựng có những mồ mả cần dời đi nơi khác, thì cơ quan cần ruộng đất phải thông báo cho những người có mồ mả biết, định thời hạn cho họ dời mồ mả đi chỗ khác, và căn cứ vào tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ một số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển. Nếu là mồ mả không có chủ thì cơ quan cần dùng đất phải chịu trách nhiệm dời đi một cách chu đáo.

Điều 9: Ngoài số đất dùng để xây dựng, nếu tạm thời cần có đất để xếp vật liệu, làm đường vận chuyển, v.v..thì cơ quan xây dựng phải thương lượng với người có ruộng đất.

Điều 10: Những khoản bồi thường về ruộng đất bị trưng dụng do cơ quan cần ruộng đất trả cho người có ruộng đất hoặc người đại diện hay là người thừa kế hợp pháp của họ.

Chương 3:

ĐIỀU KHOẢN CHUNG

Điều 11: Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ quy định những chi tiết để thi hành Nghị định này.

Điều 12: Những thể lệ về trưng dụng ruộng đất định trong Nghị định này chỉ thi hành ở vùng đồng bằng và trung du. ở các khu tự trị, việc trưng dụng ruộng đất sẽ do Uỷ ban hành chính khu tự trị căn cứ vào những nguyên tắc chung đề ra trong Nghị định này mà định những thể lệ cho khu tự trị và trình lên Thủ tướng Chính phủ xét duyệt.

Trong khi ở khu tự trị chưa đặt ra thể lệ riêng thì việc trưng dụng ruộng đất ở khu vực tự trị sẽ căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương và dựa vào thể lệ chung này mà giải quyết cho hợp lý.

Điều 13: Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 14: Các ông chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Phạm Hùng

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 151-TTg năm 1959 quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất do Hội đồng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 151-TTg
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 14/04/1959
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Phạm Hùng
Ngày công báo: 22/04/1959
Số công báo: Số 15
Ngày hiệu lực: 29/04/1959
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bất động sản
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 151-TTg năm 1959 quy định tạm thời...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký