Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 153-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1982 quy định về chế độ sĩ quan dự bị Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm xây dựng lực lượng sĩ quan dự bị hùng hậu, có chất lượng cao, sẵn sàng bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội khi cần thiết.

Phạm vi và đối tượng áp dụng chế độ sĩ quan dự bị

Nghị định quy định cụ thể các đối tượng được xét phong quân hàm và xếp vào ngạch sĩ quan dự bị bao gồm:

  • Hạ sĩ quan đã hoàn thành thời hạn phục vụ tại ngũ và hoàn thành chương trình đào tạo sĩ quan dự bị.
  • Nam học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng đã hoàn thành chương trình đào tạo sĩ quan dự bị với thời gian là 5 tháng (trong đó có tối thiểu 2 tháng huấn luyện tập trung hoặc thực tập trực tiếp tại các đơn vị quân đội).
  • Cán bộ, nhân viên đang công tác tại các ngành ngoài quân đội còn trong độ tuổi dự bị, sở hữu chuyên môn cần thiết cho công tác quân sự và đã hoàn thành chương trình đào tạo sĩ quan dự bị trong thời gian 3 tháng.

Công tác đào tạo sĩ quan dự bị tại các trường đại học, cao đẳng

  • Các trường đại học và cao đẳng có trách nhiệm đưa môn học huấn luyện quân sự và đào tạo sĩ quan dự bị vào chương trình giảng dạy chính thức, có tổ chức kiểm tra kết quả để làm cơ sở xét tốt nghiệp cho học sinh.
  • Thành lập khoa quân sự chuyên trách tại các trường đại học, cao đẳng. Bộ Quốc phòng có trách nhiệm cử cán bộ, giáo viên biệt phái đến công tác và cung cấp các trang thiết bị, khí tài cần thiết phục vụ cho công tác huấn luyện.
  • Việc đào tạo được phối hợp thống nhất giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục cùng các ngành liên quan để đào tạo nam học sinh thành các sĩ quan dự bị kỹ thuật, sĩ quan dự bị chỉ huy kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ, hoặc sĩ quan dự bị dạy quân sự.

Chế độ huấn luyện sĩ quan dự bị

  • Sĩ quan dự bị hạng một: Định kỳ hai năm một lần, theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng, phải tham gia huấn luyện tập trung từ 1 đến 2 tháng. Trong trường hợp cần thiết, thời gian huấn luyện có thể kéo dài thêm nhưng không quá 1 tháng. Thẩm quyền gọi huấn luyện thuộc về Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố được ủy quyền.
  • Sĩ quan dự bị hạng hai: Được cơ quan quân sự địa phương tổ chức huấn luyện quân sự tại chỗ, theo phương thức không thoát ly sản xuất và hoạt động kinh tế.

Chế độ đăng ký, quản lý và giải ngạch sĩ quan dự bị

  • Đăng ký cư trú và di chuyển: Cơ quan quân sự cấp huyện (quận, thị xã) chịu trách nhiệm đăng ký, quản lý sĩ quan dự bị cư trú trên địa bàn. Khi thay đổi nơi cư trú, trong vòng 15 ngày, sĩ quan dự bị phải đến đăng ký tại cơ quan quân sự nơi mới đến, mang theo giấy chứng minh và sổ đăng ký quản lý huấn luyện. Các cơ quan công an và các ngành liên quan chỉ thực hiện đăng ký hộ khẩu, sắp xếp việc làm sau khi sĩ quan đã hoàn thành thủ tục đăng ký quân sự.
  • Cập nhật thông tin biến động: Trong vòng 10 ngày kể từ khi có sự thay đổi về nghề nghiệp, chức vụ công tác hoặc tình trạng sức khỏe, sĩ quan dự bị phải chủ động đến cơ quan quản lý để đăng ký bổ sung.
  • Biên chế động viên: Sĩ quan dự bị được biên chế cụ thể vào các đơn vị dự bị động viên để quản lý chặt chẽ, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, bảo đảm sẵn sàng động viên khi có lệnh.
  • Trường hợp ra nước ngoài: Sĩ quan dự bị đi nước ngoài công tác, học tập từ 1 năm trở lên phải nộp lại giấy chứng minh sĩ quan dự bị cho cơ quan quân sự quản lý (nhận lại khi về nước); nếu đi dưới 1 năm thì gửi lại giấy chứng minh cho cơ quan quân sự nơi cư trú.
  • Chế độ báo cáo và quản lý hành chính: Hàng tháng, cơ quan quân sự các ngành ở trung ương và địa phương phải thống kê danh sách sĩ quan dự bị thuộc ngành mình để báo cho cơ quan quân sự cấp huyện nơi sĩ quan cư trú nhằm thống nhất quản lý.
  • Xử lý các trường hợp đặc biệt:
    • Khi sĩ quan dự bị bị án tù, cơ quan công an phải thông báo cho cơ quan quản lý quân sự để thực hiện tước quân hàm, thu hồi giấy chứng minh và xóa tên khỏi danh sách; sau khi chấp hành xong hình phạt tù, tùy trường hợp cụ thể sẽ được xem xét đăng ký lại.
    • Khi sĩ quan dự bị từ trần, Ban chỉ huy quân sự cấp xã (phường) hoặc bộ phận quân sự của cơ quan chủ quản phải báo cáo cơ quan quân sự cấp huyện để xóa tên trong sổ quản lý.
  • Giải ngạch: Sĩ quan dự bị hạng hai khi hết tuổi quy định hoặc không còn đủ điều kiện sức khỏe phục vụ sẽ được cơ quan quản lý báo cáo cấp trên quyết định cho giải ngạch. Quyền lợi của sĩ quan giải ngạch được thực hiện theo Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Quy định về việc gọi sĩ quan dự bị vào phục vụ tại ngũ

  • Trong thời bình: Sĩ quan dự bị chưa qua thời gian phục vụ tại ngũ có thể được gọi vào phục vụ trong quân đội với thời hạn là 3 năm theo yêu cầu quốc phòng và chỉ tiêu của Nhà nước. Sau khi hết hạn, họ được Nhà nước phân phối công tác tại các ngành, địa phương và tiếp tục phục vụ ở ngạch dự bị, trừ trường hợp quân đội có nhu cầu và sĩ quan tự nguyện xin ở lại phục vụ lâu dài.
  • Trong thời chiến hoặc tình hình khẩn trương: Sĩ quan dự bị phải sẵn sàng nhập ngũ theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng và lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Khi nhận lệnh, sĩ quan phải có mặt đúng thời gian, địa điểm quy định và mang theo giấy chứng minh sĩ quan dự bị.
  • Trách nhiệm của địa phương và cơ quan: Các ngành, địa phương nơi sĩ quan dự bị công tác hoặc cư trú có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi và chịu trách nhiệm bảo đảm cho sĩ quan thực hiện nghiêm chỉnh lệnh gọi nhập ngũ.
  • Miễn, hoãn gọi nhập ngũ: Việc miễn hoặc hoãn gọi nhập ngũ đối với sĩ quan dự bị trong cả thời bình và thời chiến do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định cụ thể.

Nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan dự bị

1. Nghĩa vụ của sĩ quan dự bị:

  • Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, trình độ kỹ chiến thuật quân sự, sẵn sàng nhận lệnh nhập ngũ.
  • Chấp hành nghiêm chỉnh các quy chế về sĩ quan dự bị, tích cực tham gia xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng và tuyên truyền giáo dục nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ trẻ.
  • Chấp hành tuyệt đối lệnh gọi tập trung huấn luyện quân sự, lệnh gọi nhập ngũ và chế độ đăng ký quản lý.

2. Quyền lợi của sĩ quan dự bị:

  • Được xét thăng cấp bậc quân hàm theo niên hạn nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ và không vi phạm kỷ luật trong quá trình phục vụ ngạch dự bị.
  • Khi vào phục vụ tại ngũ, được giữ nguyên cấp bậc quân hàm hiện có và bố trí chức vụ phù hợp. Những sĩ quan giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, ngành kinh tế khi nhập ngũ nếu được giao chức vụ cao hơn sẽ được thăng cấp quân hàm tương xứng.
  • Trong thời gian tập trung huấn luyện quân sự:
    • Được Bộ Quốc phòng cho mượn quân trang, cấp tiền ăn, lương thực, thực phẩm.
    • Nếu là cán bộ, công nhân viên Nhà nước: Được cơ quan, đơn vị chủ quản chi trả nguyên lương, phụ cấp, các khoản phúc lợi, tiền tàu xe và công tác phí.
    • Nếu là xã viên hợp tác xã hoặc lao động khác: Được Bộ Quốc phòng thanh toán tiền tàu xe đi về và hưởng một khoản phụ cấp theo quy định. Thời gian huấn luyện được tính vào thời gian lao động nghĩa vụ hàng năm của bản thân và gia đình (nếu vượt quá chỉ tiêu trong năm sẽ được trừ vào các năm sau).
  • Được khen thưởng khi có thành tích xuất sắc; nếu bị thương, ốm đau trong thời gian huấn luyện hoặc làm nhiệm vụ quốc phòng sẽ được điều trị tại các cơ sở y tế; nếu hy sinh hoặc tử vong do tai nạn luyện tập thì bản thân và gia đình được hưởng các chế độ, chính sách hiện hành như đối với quân nhân dự bị.
  • Được tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao tại các câu lạc bộ, thư viện của quân đội hoặc câu lạc bộ dành riêng cho sĩ quan dự bị.

Chế độ kỷ luật và tổ chức thực hiện

  • Sĩ quan dự bị vi phạm khuyết điểm trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc làm nhiệm vụ quốc phòng sẽ bị xử lý kỷ luật theo Điều lệnh quản lý bộ đội của Quân đội nhân dân Việt Nam; nếu cấu thành tội phạm sẽ bị truy tố và xét xử bởi Tòa án quân sự.
  • Công tác tổ chức thực hiện chế độ sĩ quan dự bị tại các ngành, các cấp do Vụ 1, Phòng 1, Ban 1 hoặc tổ chức chuyên trách về công tác quân sự đảm nhiệm. Bộ Quốc phòng quy định cụ thể về cơ quan chuyên trách công tác sĩ quan dự bị trong lực lượng vũ trang.
  • Nghị định này bãi bỏ toàn bộ các quy định trước đây về sĩ quan dự bị trái với các nội dung tại Nghị định này.

Hiệu lực thi hành

Nghị định 153-HĐBT có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 153-HĐBT

Hà Nội, ngày 08 tháng 9 năm 1982

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 153-HĐBT NGÀY 8 THÁNG 9 NĂM 1982 VỀ CHẾ ĐỘ SĨ QUAN DỰ BỊ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 30 tháng 12 năm 1981;
Căn cứ Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 30 tháng 12 năm 1981;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,

NGHỊ ĐỊNH :

Chương 1:

SĨ QUAN DỰ BỊ VÀ VIỆC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG SĨ QUAN DỰ BỊ

Điều 1.- Xét phong quân hàm và xếp vào ngạch sĩ quan dự bị những người sau đây:

- Hạ sĩ quan hết hạn phục vụ tại ngũ và học hết chương trình đào tạo sĩ quan dự bị.

- Nam học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng và học hết chương trình đào tạo sĩ quanh dự bị, thời gian là 5 tháng, trong đó có ít nhất 2 tháng huấn luyện tập trung hoặc thực tập trong các đơn vị quân đội.

- Cán bộ, nhân viên các ngành ngoài quân đội trong tuổi dự bị, có chuyên môn cần thiết cho công tác quân sự, học hết chương trình đào tạo sĩ quan dự bị, thời gian là 3 tháng.

Nội dung chương trình đào tạo sĩ quan dự bị cho các đối tượng nói trên do Bộ Quốc phòng biên soạn.

Điều 2.- Từ nay các trường đại học và cao đẳng phải có môn học huấn luyện quân sự và đào tạo sĩ quan dự bị, có kiểm tra kết quả để xét tốt nghiệp cho học sinh.

Theo kế hoạch thống nhất giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, Bộ Giáo dục và các ngành có liên quan, nam học sinh có ngành nghề phù hợp với yêu cẩu của quân đội thì được đào tạo thành sĩ quan dự bị kỹ thuật, sĩ quan dự bị chỉ huy kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ, sĩ quan dự bị dạy quân sự cho học sinh phổ thông.

Điều 3.- Thành lập khoa quân sự ở các trường đại học , cao đẳng. Bộ Quốc phòng cử cán bộ, giáo viên công tác ở khoa này cung cấp trang thiết bị cần thiết cho công tác huấn luyện quân sự.

Điều 4.- Sĩ quan dự bị hạng một cứ hai năm một lần theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng được huấn luyện tập trung từ 1 đến 2 tháng. Trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm không quá 1 tháng.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định hoặc uỷ quyền cho chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định việc gọi sĩ quan dự bị đi huấn luyện hàng năm.

Sĩ quan dự bị hạng hai do cơ quan quân sự địa phương tổ chức huấn luyện quân sự tại chỗ, không thoát ly sản xuất.

Chương 2:

ĐĂNG KÝ QUẢN LÝ SĨ QUAN DỰ BỊ

Điều 5.- Cơ quan quân dự huyện quận, thị xã có trách nhiệm đăng ký quản lý sĩ quan dự bị cư trú trong địa phương mình. Mỗi khi chuyển nơi cư trú, trong vòng 15 ngày sĩ quan dự bị phải đến đăng ký tại cơ quan quân sự huyện, quận, thị xã. Khi đến đăng ký phải đem theo giấy chứng minh, sổ đăng ký quản lý huấn luyện sĩ quan dự bị. Cơ quan công an và các ngành có liên quan chỉ đăng ký hộ khẩu, sắp xếp công tác giải quyết các quyền lợi khác sau khi cơ quan quân sự đã đăng ký sĩ quan dự bị.

Điều 6.- Khi thay đổi về nghề nghiệp, chức vụ công tác, tình trạng sức khoẻ của mình, sau 10 ngày, sĩ quan dự bị có trách nhiệm đến cơ quan quản lý đăng ký bổ sung.

Điều 7.- Tuỳ theo nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, sĩ quan dự bị được biên chế vào các đơn vị dự bị động viên để quản lý chặt chẽ từng người, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ quân sự, bảo đảm các yêu cầu động viên.

Điều 8.- Sĩ quan dự bị ra nước ngoài công tác, học tập:

- Từ 1 năm trở lên phải nộp giấy chứng minh sĩ quan dự bị cho cơ quan quân sự quản lý mình, khi về nước phải xin cấp lại.

- Dưới 1 năm thì gửi lại giấy chứng minh sĩ quan dự bị cho cơ quan quân sự nơi sĩ quan dự bị cư trú.

Điều 9.- Sĩ quan dự bị hạng hai hết hạn tuổi quy định hoặc không đủ điều kiện sức khoẻ để phục vụ trong ngạch dự bị thì cơ quan quản lý báo cáo lên cấp trên quyết định cho giải ngạch. Quyền hạn của sĩ quan dự bị giải ngạch, thực hiện theo quy định của điều 14 Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Điều 10.- Hàng tháng cơ quan quân sự các ngành ở trung ương và địa phương phải thống kê sĩ quan dự bị thuộc ngành mình báo cho cơ quan quân sự huyện, quận, thị xã, địa phương nơi sĩ quan dự bị cư trú để thống nhất quản lý.

Điều 11.- Khi sĩ quan dự bị bị án tù, cơ quan công an có trách nhiệm báo cho cơ quan quản lý sĩ quan dự bị biết để tước quân hàm , thu hồi giấy chứng minh sĩ quan dự bị và xoá tên trong danh sách sĩ quan dự bị; hết hạn tù, tuỳ theo trường hợp cụ thể được xét để đăng ký lại.

Điều 12.- Khi sĩ quan dự bị từ trần, ban chỉ huy quân sự xã, phường, hoặc bộ phận phụ trách công tác quân sự của tổ chức có sĩ quan đó phải báo cáo cho cơ quan quân sự huyện, quận, thị xã biết để xoá tên.

Chương 3:

GỌI SĨ QUAN DỰ BỊ RA PHỤC VỤ TẠI NGŨ.

Điều 13.- Trong thời bình, theo yêu cầu quốc phòng và chỉ tiêu quy định của Nhà nước, sĩ quan dự bị chưa qua thời gian phục vụ tại ngũ, được gọi vào phục vụ trong quân đội, thời gian là 3 năm. Hết hạn phục vụ trên, sĩ quan dự bị được Nhà nước phân phối tại các ngành hoặc địa phương, tiếp tục phục vụ tại ngạch dự bị. Bộ quốc phòng được giữ lại một số sĩ quan trên cơ sở quân đội có nhu cầu và sự tình nguyện ở lại phục vụ lâu dài trong quân đội của sĩ quan.

Điều 14.- Khi tình hình khẩn trương hoặc có chiến tranh, sĩ quan dự bị phải sẵn sàng vào phục vụ tại ngũ theo quyết định của Hội đồng bộ trưởng và lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Điều 15.- Khi nhận được lệnh gọi nhập ngũ, sĩ quan dự bị phải có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định, mang theo giấy chứng minh sĩ quan dự bị.

Điều 16.- Các ngành, các địa phương có sĩ quan dự bị công tác hoặc cư trú phải tạo điều kiện thuận lợi cho sĩ quan dự bị thực hiện lệnh gọi nhập ngũ và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện lệnh gọi nhập ngũ cua sĩ quan dự bị thuộc quyền.

Điều 17.- Việc miễn, hoãn gọi nhập ngũ đối với sĩ quan dự bị trong thời bình và thời chiến do chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quy định.

Chương 4:

NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA SĨ QUAN DỰ BỊ

Điều 18.- Sĩ quan dự bị có nghĩa vụ:

1. Phải không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị , trình độ quân sự, sẵn sàng vào phục vụ tại ngũ khi có lệnh.

2. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy chế về sĩ quan dự bị, tích cực tham gia công tác củng cố quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang, tuyên truyền giáo dục về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên, thiếu niên.

3. Chấp hành nghiêm chỉnh lệnh gọi tập trung huấn luyện quân sự, lệnh gọi nhập ngũ.

4. Chấp hành đầy đủ chế độ đăng ký quản lý và tham gia các khoá huấn luyện đạt kết quả tốt.

Điều 19.- Sĩ quan dự bị được hưởng các quyền lợi sau đây:

1. Trong quá trình phục vụ tại ngạch dự bị, sĩ quan dự bị hoàn thành tốt nhiệm vụ, không phạm kỷ luật thì theo niên hạn được xét thăng cấp bậc quân hàm.

2. Khi vào phục vụ tại ngũ, sĩ quan dự bị mang cấp bậc quân hàm đã có và được giao nhiệm vụ phù hợp với cấp bậc quân hàm và khả năng công tác. Những sĩ quan dự bị giữ chức vụ quan trọng trong các ngành kinh tế, trong các tổ chức Đảng và Nhà nước ở các cấp, khi vào phục vụ tại ngũ, nếu được giao chức vụ cao hơn thì được thăng cấp quân hàm tương xứng.

3. Trong thời gian tập trung huấn luyện quân sự, sĩ quan dự bị được Bộ Quốc phòng cho mượn quân trang, được cấp tiền ăn, lương thực, thực phẩm và:

a) Nếu là cán bộ, công nhân viên Nhà nước, được cơ quan, đơn vị nơi công tác trả nguyên lương, phụ cấp, các khoản phúc lợi khác, tiền công tác phí và tiền tàu xe theo chế độ hiện hành.

b) Nếu là xã viên hợp tác xã và những người lao động khác được Bộ Quốc phòng cấp tiền tàu xe đi về và một khoản phụ cấp do Bộ Quốc phòng quy định. Thời gian tập trung huấn luyện được tính vào thời gian lao động nghĩa vụ của bản thân và gia đình. Nếu thời gian huấn luyện quá thời gian lao động nghĩa vụ quy định trong năm thì được trừ vào những năm sau .

4. Trong thời gian tập trung huấn luyện quân sự hoặc công tác phục vụ quốc phòng, sĩ quan dự bị có thành tích thì được khen thưởng, nếu bị thương, ốm đau sẽ được điều trị tại cơ sở quân hoặc dân y gần nhất. Nếu bị chết vì tai nạn luyện tập quân sự, hoặc rủi ro thì được hưởng theo chế độ, chính sách hiện hành quy định đối với quân nhân dự bị.

5. Sĩ quan dự bị được tham gia các hoạt động văn hoá, thể dục thể thao trong các câu lạc bộ, thư viên của quân đội hoặc câu lạc bộ dành riêng cho các sĩ quan dự bị.

Điều 20.- Trong thời gian tập trung huấn luyện quân sự hoặc công tác phục vụ quốc phòng , sĩ quan dự bị phạm khuyết điểm thì bị xử phạt theo điều lệnh quân đội; nếu phạm tội thì do Toà án quân sự xét xử.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 21.- Việc tổ chức thực hiện công tác sĩ quan dự bị do vụ 1, phòng 1, ban 1 hoặc tổ chức chuyên trách về công tác quân sự ở các ngành, các cấp đảm nhiệm, Bộ Quốc phòng quy định cơ quan chuyên trách công tác sĩ quan dự bị trong các lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều 22.- Bãi bỏ những quy định trước đây về sĩ quan dự bị trái với Nghị định này.

Điều 23.- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc thi hành Nghị định này.

Điều 24.- Bộ trưởng các bộ, chủ nhiệm các Ủy ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Tố Hữu

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 153-HĐBT năm 1982 về chế độ sĩ quan dự bị Quân đội nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 153-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 08/09/1982
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Tố Hữu
Ngày công báo: 15/09/1982
Số công báo: Số 17
Ngày hiệu lực: 23/09/1982
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 153-HĐBT năm 1982 về chế độ sĩ quan...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký