Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 19/CP được ban hành năm 1994 bởi Chính phủ do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký, quy định chi tiết về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương nhằm thống nhất quản lý nhà nước và nâng cao hiệu quả quốc phòng toàn dân.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định này áp dụng đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, xã, phường, thị trấn), các cơ quan quân sự địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân Việt Nam tham gia vào công tác quốc phòng.

Nguyên tắc chung và nội dung công tác quốc phòng

  • Chính phủ thực hiện quản lý thống nhất công tác quốc phòng trên phạm vi cả nước theo quy định của pháp luật.
  • Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về quốc phòng được giao, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
  • Công tác quốc phòng bao gồm các hoạt động giáo dục, động viên, tổ chức toàn dân tham gia xây dựng và bảo vệ tiềm lực quốc phòng, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và giữ vững an ninh quốc gia.

Nhiệm vụ quốc phòng của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ

  • Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; lập kế hoạch động viên ngành để sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống chiến tranh.
  • Phối hợp với các địa phương xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc.
  • Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng, quản lý lực lượng tự vệ, lực lượng dự bị động viên và thực hiện công tác tuyển quân, động viên quốc phòng theo hướng dẫn của Bộ Quốc phòng.
  • Thực hiện đầy đủ các chính sách củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang và chính sách hậu phương quân đội.

Trách nhiệm của các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan Trung ương

  • Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành giúp Thủ tướng Chính phủ quản lý nhà nước về quốc phòng; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và địa phương thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; chỉ huy các lực lượng vũ trang, chỉ đạo tuyển quân và động viên quân đội; có quyền chấn chỉnh các hành vi sai phạm hoặc kiến nghị Thủ tướng giải quyết.
  • Thủ trưởng các Bộ, ngành: Trực tiếp chỉ đạo thực hiện công tác quốc phòng tại ngành và các đơn vị trực thuộc; đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách để bảo đảm tính thống nhất, hiệu quả.
  • Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước: Phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo lập kế hoạch quốc phòng địa phương, kế hoạch động viên nền kinh tế quốc dân và tổ chức kết hợp kinh tế với quốc phòng.
  • Bộ trưởng Bộ Tài chính: Phối hợp bảo đảm, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước dành cho quốc phòng ở cả Trung ương và địa phương.
  • Tổng thanh tra Nhà nước: Phối hợp với Thanh tra Bộ Quốc phòng và thanh tra các ngành tiến hành thanh tra định kỳ công tác quốc phòng tại các địa phương và Bộ, ngành.

Nhiệm vụ quốc phòng của các địa phương

  • Tổ chức thực hiện công tác giáo dục quốc phòng toàn dân tại địa phương.
  • Xây dựng địa bàn tỉnh, thành phố, huyện, quận thành khu vực phòng thủ vững chắc, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phòng thủ trong mọi tình huống.
  • Chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với Công an nhân dân giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
  • Xây dựng lực lượng bộ đội địa phương tinh nhuệ, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp làm nòng cốt cho khu vực phòng thủ.
  • Thực hiện đăng ký, quản lý nguồn động viên, xây dựng lực lượng dự bị, tuyển quân và động viên quân đội.
  • Thực hiện nghiêm túc các chính sách hậu phương quân đội, huy động sức người, sức của tại địa phương cho quốc phòng.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Thủ tướng Chính phủ về công tác quốc phòng tại địa phương.

Tổ chức bộ máy và nhân sự làm công tác quốc phòng

  • Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính thành lập Vụ Quốc phòng - an ninh; Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập Vụ Giáo dục quốc phòng.
  • Các Bộ, ngành khác bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm làm công tác quốc phòng tại Vụ Kế hoạch hoặc cơ quan tương đương. Nhân sự này có thể là cán bộ của cơ quan hoặc sĩ quan biệt phái do Bộ Quốc phòng cử sang.
  • Thủ trưởng cơ quan quân sự địa phương các cấp (tỉnh, huyện) làm tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp và trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang địa phương. Ở cấp xã, phường và đơn vị cơ sở thành lập Ban chỉ huy quân sự theo quy định pháp luật.

Mối quan hệ phối hợp trong công tác quốc phòng

  • Giữa Bộ Quốc phòng và các Bộ, ngành: Bộ Quốc phòng thông báo tình hình, âm mưu của địch và nhiệm vụ quốc phòng; đề xuất yêu cầu kết hợp kinh tế với quốc phòng; hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách. Các Bộ, ngành thông báo cho Bộ Quốc phòng về kế hoạch kinh tế - xã hội quan trọng và báo cáo kết quả thực hiện công tác quốc phòng hàng năm.
  • Giữa Bộ Quốc phòng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Tư lệnh các Quân khu giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh triển khai công tác quốc phòng, kết hợp kinh tế với quốc phòng. Hàng năm, tổ chức hội nghị liên tịch giữa Bộ Tư lệnh Quân khu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thống nhất kế hoạch.

Chế độ báo cáo, kinh phí và chính sách ưu đãi

  • Chế độ báo cáo: Các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải đưa nội dung nhận xét về thực hiện công tác quốc phòng vào báo cáo định kỳ gửi Chính phủ.
  • Kinh phí quốc phòng: Kinh phí tại địa phương do ngân sách địa phương bảo đảm và huy động đóng góp tự nguyện hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân. Kinh phí tại các Bộ, ngành do ngân sách nhà nước cấp. Các doanh nghiệp tự trích kinh phí phục vụ công tác quốc phòng tại đơn vị mình.
  • Chế độ chính sách: Nhà nước bảo đảm chế độ đãi ngộ vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ, quân dự bị động viên khi làm nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu. Trường hợp bị thương hoặc hy sinh sẽ được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định. Các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc sẽ được khen thưởng kịp thời.

Hiệu lực thi hành: Nghị định 19/CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Nghị định này thay thế cho Chỉ thị số 108 ngày 16 tháng 7 năm 1971 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 165/CP ngày 23 tháng 04 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với các Bộ, ngành liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết Nghị định này.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 19/CP

Hà Nội, ngày 12 tháng 3 năm 1994

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 19/CP NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 1994 VỀ CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG Ở CÁC BỘ, CƠ QUAN NGANG BỘ, CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ VÀ CÁC ĐỊA PHƯƠNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Điều 44, 46, 112 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Để không ngừng củng cố nền quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

NGHỊ ĐỊNH :

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1- Chính phủ thống nhất quản lý công tác quốc phòng trong phạm vi cả nước theo quy định của pháp luật.

Điều 2- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thực hiện công tác quốc phòng theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Điều 3- Công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ở các địa phương bao gồm các vấn đề về giáo dục, động viên, tổ chức toàn dân làm công tác quốc phòng, xây dựng và bảo vệ tiềm lực quốc phòng, chuẩn bị cho đất nước sẵn sàng đối phó với thắng lợi trong mọi tình huống, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác quốc phòng của Nhà nước.

Điều 4- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức thực hiện công tác quốc phòng.

Chương 2:

NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN NGANG BỘ, CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ, UỶ BAN NHÂN DÂN CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG VỀ CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG

Điều 5- Nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về công tác quốc phòng:

1. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với củng cố quốc phòng và an ninh, lập kế hoạch động viên của ngành để sẵn sàng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

2. Phối hợp cùng các địa phương tổ chức xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc.

3. Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng lực lượng tự vệ và tổ chức lực lượng tự vệ hoạt động xây dựng và quản lý lực lượng dự bị động viên, thực hiện công tác tuyển quân và động viên công tác phòng thủ theo sự hướng dẫn của Bộ Quốc phòng và của cơ quan quân sự địa phương.

4. Thực hiện các chính sách về củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, chính sách hậu phương quân đội.

Điều 6- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành giúp Thủ tướng Chính phủ quản lý nhà nước về công tác quốc phòng; chỉ đạo hướng dẫn và kiểm tra đôn đốc Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về công tác quốc phòng.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ huy các lực lượng vũ trang, chỉ đạo công tác tuyển quân, động viên cho quân đội và các công tác quốc phòng khác. Trong quá trình hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện, nếu phát hiện các việc làm không đúng quy định của Nhà nước về công tác quốc phòng thì có quyền chấn chỉnh, uốn nắn hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giải quyết.

Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện công tác quốc phòng ở ngành mình, chỉ đạo các cơ quan và đơn vị trực thuộc mình thực hiện công tác quốc phòng; phát hiện và đề xuất với Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung để việc chỉ đạo công tác quốc phòng thống nhất, đồng bộ và hiệu quả.

Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm:

a) Phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo các ngành, các cấp lập kế hoạch quốc phòng của địa phương, của ngành và kế hoạch động viên ngành kinh tế quốc dân cho quốc phòng, tổng hợp trình Chính phủ duyệt.

b) Phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức thực hiện các vấn đề có liên quan về kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn, đảm bảo và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch ngân sách của Nhà nước về quốc phòng ở Trung ương và các địa phương.

Tổng thanh tra Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với thanh tra Bộ Quốc phòng, thanh tra các ngành định kỳ thanh tra việc thực hiện công tác quốc phòng ở địa phương, ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ.

Điều 7- Nhiệm vụ của các địa phương về công tác quốc phòng:

1. Thực hiện việc giáo dục quốc phòng ở địa phương.

2. Xây dựng tỉnh, thành phố, huyện, quận thành khu vực phòng thủ vững chắc, đáp ứng yêu cầu phòng thủ của địa phương và cả nước trong mọi tình huống.

3. Chỉ đạo lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với công an nhân dân giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

4. Xây dựng bộ đội địa phương với số lượng thích hợp, chất lượng cao, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp làm nòng cốt cho khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố.

5. Đăng ký, bảo quản nguồn động viên và xây dựng lực lượng dự bị, thực hiện công tác tuyển quân và động viên, bảo đảm cho việc xây dựng và phát triển quân đội nhân dân.

6. Thi hành mọi chủ trương chính sách, pháp luật về củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, chính sách hậu phương quân đội, động viên sức người, sức của ở địa phương cho công cuộc xây dựng, củng cố quốc phòng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Điều 8- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cấp mình và trước Thủ tướng Chính phủ về việc chỉ đạo thực hiện công tác quốc phòng ở địa phương.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình về công tác quốc phòng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Chương 3:

TỔ CHỨC VÀ MỐI QUAN HỆ VỀ CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG

Điều 9- Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính có Vụ Quốc phòng - an ninh, Bộ Giáo dục - Đào tạo có Vụ Giáo dục quốc phòng. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ theo nhu cầu công tác quốc phòng phải bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm trong Vụ Kế hoạch hoặc cơ quan tương ứng làm công tác quốc phòng.

Cán bộ làm công tác quốc phòng do cơ quan chủ quản chọn trong số cán bộ của cơ quan, hoặc đề nghị Bộ Quốc phòng cử sỹ quan biệt phái.

Điều 10- Thủ trưởng cơ quan quân sự ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chủ trì phối hợp với các ngành, các đoàn thể làm tham mưu giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp mình chỉ đạo thực hiện công tác quốc phòng; trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang địa phương.

Ở xã, phường, đơn vị cơ sở Nhà nước có Ban chỉ huy quân sự với chức năng và tổ chức theo quy định ở Điều 11 của Điều lệ dân quân tự vệ ban hành kèm theo Nghị định số 29/HĐBT ngày 29 tháng 01 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).

Điều 11- Quan hệ giữa Bộ Quốc phòng với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về công tác quốc tác phòng được quy định như sau:

Hàng năm và từng thời kỳ Bộ Quốc phòng thông báo cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về tình hình, âm mưu địch có liên quan và nhiệm vụ công tác quốc phòng.

Bộ Quốc phòng đề xuất các yêu cầu về kết hợp kinh tế với quốc phòng trong các dự án quy hoạch chiến lược, kế hoạch kinh tế - xã hội dài hạn; lập nhu cầu trong chiến tranh gửi Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước tổng hợp và kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ mức đáp ứng nhu cầu quốc phòng trong kế hoạch hàng năm.

Bộ Quốc phòng hướng dẫn và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ chuyên trách, cán bộ kiêm nhiệm làm công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và xây dựng mối quan hệ công tác với các cơ quan này.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hàng năm và từng thời kỳ thông báo cho Bộ Quốc phòng về kế hoạch kinh tế - xã hội, các dự án kinh tế - xã hội quan trọng có liên quan đến quốc phòng.

Đối với những vấn đề có liên quan trực tiếp đến công tác quốc phòng, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cần trao đổi ý kiến với Bộ Quốc phòng trước khi trình Chính phủ.

Hàng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phản ánh cho Bộ Quốc phòng về kết quả thực hiện công tác quốc phòng.

Điều 12- Quan hệ giữa Bộ Quốc phòng với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về công tác quốc phòng được quy định như sau:

Căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Tư lệnh các Quân khu giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hướng dẫn các Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố triển khai thực hiện công tác quốc phòng; hàng năm thông báo cho Uỷ ban nhân dân các địa phương về tình hình, âm mưu địch và bàn bạc thống nhất với Uỷ ban nhân dân các địa phương về kết hợp kinh tế với quốc phòng.

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố hàng năm thông báo cho Tư lệnh Quân khu kế hoạch kinh tế - xã hội có liên quan đến quốc phòng. Hàng năm giữa Bộ Tư lệnh Quân khu và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức hội nghị liên tịch bàn về công tác quốc phòng.

Đối với những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quốc phòng, Uỷ ban nhân dân cần trao đổi ý kiến với Tư lệnh Quân khu trước khi trình lên cấp trên.

Cơ quan quân sự địa phương phải chấp hành chế độ thỉnh thị, báo cáo với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp mình và cơ quan quân sự cấp trên.

Điều 13- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi báo cáo kết quả các mặt công tác hàng năm và từng thời kỳ lên Chính phủ phải có phần nhận xét về thực hiện công tác quốc phòng của cơ quan mình, địa phương mình.

Chương 4:

CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG Ở CÁC BỘ, CƠ QUAN NGANG BỘ, CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ VÀ Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG

Điều 14- Kinh phí cho công tác quốc phòng ở các địa phương được trích từ ngân sách địa phương. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ quy định tỷ lệ trích, đáp ứng nhu cầu cần thiết của công tác quốc phòng ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong từng năm.

Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Mặt trận Tổ quốc động viên các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và nhân dân đóng góp kinh phí theo khả năng và hình thức thích hợp để hỗ trợ cho ngân sách quốc phòng - an ninh ở địa phương.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý và sử dụng chặt chẽ nguồn huy động đóng góp này.

Kinh phí cho công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ các cơ quan thuộc Chính phủ do ngân sách Nhà nước hàng năm phân bổ cho từng cơ quan.

Các doanh nghiệp Nhà nước, tập thể và tư nhân trích kinh phí phục vụ cho công tác quốc phòng ở đơn vị mình.

Điều 15- Nhà nước có chế độ chính sách về xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, chính sách hậu phương quân đội, chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ, dân quân tự vệ, quân dự bị động viên trong thời gian thoát ly sản xuất để làm nhiệm vụ huấn luyện quân sự, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quân sự thì được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của Nhà nước.

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, cán bộ, chiến sỹ, dân quân tự vệ, quân dự bị động viên và nhân dân có thành tích trong việc thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa được xét khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 16- Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký và thay thế cho Chỉ thị số 108 ngày 16 tháng 7 năm 1971 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 165/CP ngày 23 tháng 04 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ.

Điều 17- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn việc thực hiện Nghị định này.

Điều 18- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 19/CP năm 1994 về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương

Số hiệu: 19/CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 12/03/1994
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 12/03/1994
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 19/CP năm 1994 về công tác quốc phò...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký