Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 194-CP được Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1964 kèm theo Điều lệ giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe nhằm thiết lập các quy tắc, biện pháp bảo vệ sức khỏe nhân dân, thúc đẩy sản xuất, học tập và xây dựng nếp sống mới trong thời kỳ xây dựng đất nước.

Đối tượng áp dụng của Điều lệ bao gồm toàn thể công dân, thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đơn vị quân đội, ban quản trị các hợp tác xã, chủ hộ tập thể và chủ hộ gia đình trên phạm vi cả nước.

Nguyên tắc chung về giữ gìn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe
  • Việc giữ gìn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi công dân, cán bộ, công nhân, viên chức và các tổ chức xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh sản xuất, công tác, học tập, nâng cao đời sống và đem lại hạnh phúc cho gia đình.
  • Các ngành ở trung ương và Ủy ban hành chính các cấp căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương để ban hành quy định hướng dẫn chi tiết cho nhân dân thi hành.
Vệ sinh đề phòng và chống bệnh dịch
  • Khi phát hiện hoặc nghi ngờ có dịch bệnh trong đơn vị hoặc gia đình, các cá nhân, chủ hộ, thủ trưởng đơn vị phải khai báo ngay cho cơ quan y tế gần nhất.
  • Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố có trách nhiệm ra lệnh phong tỏa, bao vây và dập tắt ổ dịch theo đề nghị của cơ quan y tế địa phương.
  • Mọi người dân có nghĩa vụ tiêm chủng, uống thuốc phòng dịch và chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp chống dịch của Bộ Y tế hoặc chính quyền địa phương.
  • Người xuất, nhập cảnh qua biên giới nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về kiểm dịch biên giới.
Vệ sinh trong lao động và sản xuất
  • Thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã phải chăm lo sức khỏe người lao động, thành lập và củng cố tổ chức y tế cơ sở để thực hiện tốt công tác phòng bệnh, chữa bệnh.
  • Nơi làm việc phải đảm bảo thoáng khí, đủ ánh sáng, kiểm soát khói, bụi, hơi độc, độ ẩm và nhiệt độ trong giới hạn cho phép. Người làm việc trong môi trường độc hại phải được khám sức khỏe định kỳ và trang bị bảo hộ lao động đầy đủ.
  • Bố trí công việc phù hợp với sức khỏe và sinh lý của phụ nữ. Nghiêm cấm sử dụng lao động nữ mang thai và trẻ em dưới 16 tuổi làm các công việc nặng nhọc, độc hại. Phải bố trí khu vệ sinh riêng cho phụ nữ tại nơi làm việc.
Vệ sinh an toàn thực phẩm, nước uống và dược phẩm
  • Bảo vệ nguồn nước ăn uống như sông, suối, giếng nước; nghiêm cấm tắm giặt hoặc vứt rác thải bẩn tại khu vực này. Nước do nhà máy cung cấp phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh của Bộ Y tế. Ở nơi chưa có nước máy, cần đào giếng hoặc xây bể lọc hợp vệ sinh.
  • Các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, thuốc lá, thuốc chữa bệnh và phòng bệnh phải đáp ứng đầy đủ điều kiện vệ sinh về nhà xưởng, nguyên liệu, máy móc và dụng cụ chứa đựng.
  • Sản xuất hàng loạt thực phẩm bảo quản lâu ngày và dược phẩm phải tuân thủ đúng công thức quy định và có hồ sơ theo dõi riêng cho từng lô sản xuất.
  • Cấm lưu thông trên thị trường các loại thực phẩm, dược phẩm bị hư hỏng, có hại cho sức khỏe người tiêu dùng.
  • Người trực tiếp tham gia sản xuất thực phẩm, dược phẩm phải được khám sức khỏe định kỳ; người mắc bệnh truyền nhiễm phải nghỉ việc hoặc chuyển công tác khác.
Vệ sinh trường học, nhà trẻ và phương tiện giao thông
  • Trường học, nhà trẻ phải xây dựng xa nguồn độc hại, ô nhiễm; phòng học phải đủ ánh sáng, diện tích và trang bị bàn ghế phù hợp lứa tuổi học sinh.
  • Nghiêm cấm giáo viên, người nuôi dạy trẻ và học sinh đang mắc bệnh truyền nhiễm đến trường. Người mắc bệnh lao, hủi tuyệt đối không được làm nghề dạy học hoặc nuôi dạy trẻ.
  • Các phương tiện giao thông công cộng như xe lửa, tàu thủy, ca-nô, máy bay phải trang bị đầy đủ nước rửa, hố xí hợp vệ sinh; không chở chung hành khách với người mắc bệnh dịch nguy hiểm hoặc hàng hóa độc hại, hôi thối.
Vệ sinh trong xây dựng và quản lý nhà ở
  • Khi phê duyệt thiết kế xây dựng công trình công cộng, nhà ở do Nhà nước đầu tư tại đô thị phải thẩm định cả phương án vệ sinh. Nếu thi công vi phạm quy chuẩn vệ sinh phải đình chỉ hoặc sửa chữa kịp thời.
  • Nhà ở nông thôn phải giữ khoảng cách thích hợp với chuồng trại chăn nuôi, hố xí và nơi chứa rác thải.
  • Các nhà ở cũ không hợp vệ sinh tại đô thị cần được cải tạo, sửa chữa để đảm bảo điều kiện sống cho người dân.
Quản lý chất thải, nước thải và khí thải
  • Các cơ quan, trường học, bệnh viện, khu dân cư phải trang bị hố xí, nước rửa và dụng cụ thu gom phân, rác hợp vệ sinh.
  • Việc vận chuyển, xử lý phân, rác phải tuân thủ quy định của chính quyền địa phương; bãi tập kết chất thải phải đặt xa khu dân cư, nguồn nước và trục đường giao thông chính.
  • Cơ sở sản xuất, bệnh viện phải có hệ thống cống rãnh thoát nước bẩn và thực hiện khử trùng, khử độc nước thải trước khi xả ra môi trường.
  • Các nguồn phát sinh khói, bụi, khí độc hoặc tiếng ồn lớn phải lắp đặt hệ thống xử lý, dẫn khí lên độ cao quy định và bảo đảm khoảng cách an toàn với khu dân cư.
Vệ sinh trong việc chôn cất, bốc mộ và di chuyển thi hài
  • Việc chôn cất hoặc hỏa táng phải thực hiện tại nghĩa trang quy định, chậm nhất là 48 giờ sau khi tử vong. Người chết do bệnh dịch phải chôn cất sớm hơn tại địa điểm chỉ định để phòng dịch.
  • Việc bốc mộ, di chuyển hài cốt và sử dụng đất nghĩa trang cũ phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định vệ sinh phòng dịch.
  • Di chuyển thi hài qua biên giới phải được sự cho phép của Chính phủ hoặc cơ quan ủy quyền và thực hiện khâm liệm đúng quy chuẩn y tế.
Hiệu lực thi hành và chế tài xử lý vi phạm
  • Bộ Y tế chịu trách nhiệm hướng dẫn, giải thích và kiểm tra việc thực hiện Điều lệ này trên phạm vi cả nước, có sự chiếu cố đến điều kiện thực tế của đất nước.
  • Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và Ủy ban hành chính các cấp căn cứ chức năng để ban hành văn bản hướng dẫn sát với thực tế địa phương, ngành mình phụ trách.
  • Mọi hành vi vi phạm quy định về giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe sẽ bị xử lý nghiêm khắc bằng các hình thức: phê bình, cảnh cáo, xử phạt vi cảnh theo thể lệ quản lý trị an của địa phương hoặc truy tố trước tòa án tùy theo mức độ vi phạm.

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
********

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

********

Số: 194-CP

Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 1964

NGHỊ ĐỊNH

BAN HÀNH ĐIỀU LỆ GIỮ GÌN VỆ SINH, BẢO VỆ SỨC KHỎE

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ điều 73 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa;
Để tăng cường việc giữ gìn vệ sinh phòng ngừa bệnh tật, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, góp phần đẩy mạnh sản xuất, phục vụ quốc phòng và xây dựng nếp sống mới trong nhân dân;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Y tế:
Căn cứ quyết định của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 13 tháng 5 năm 1964:

NGHỊ ĐỊNH :

Điều 1. – Nay ban hành, kèm theo nghị định này, điều lệ giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe.

Điều 2. – Các ông Bộ trưởng, các ông Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành điều lệ này.

T.M HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

ĐIỀU LỆ

VỀ GIỮ GÌN VỆ SINH, BẢO VỆ SỨC KHỎE
(Ban hành kèm theo Nghị định số 194-CP ngày 31-12-1964)

I. NGUYÊN TẮC CHUNG

Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe là việc rất cần thiết trong đời sống hàng ngày của nhân dân ta, vì giữ gìn được vệ sinh, bảo vệ được sức khỏe là tạo được Điều kiện để đẩy mạnh sản xuất, đẩy mạnh công tác và học tập, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần xây dựng nếp sống mới và làm cho đời sống gia đình thêm hạnh phúc.

Việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe có lợi ích như vậy, nên thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp, trường học, các ban quản trị các hợp tác xã và mọi người công dân phải coi đây là nghĩa vụ và quyền lợi của mình mà ra sức thực hiện nghiêm chỉnh.

Bản điều lệ này quy định những nguyên tắc lớn của việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe; thủ trưởng mỗi ngành ở trung ương, Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần căn cứ vào hoàn cảnh, trình độ cụ thể của từng ngành, từng địa phương và căn cứ vào bản điều lệ này mà có những quy định cụ thể và hướng dẫn nhân dân, cán bộ, công nhân, viên chức thi hành.

II. VỆ SINH ĐỀ PHÒNG VÀ CHỐNG BỆNH DỊCH

Điều 1. – Thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp, trường học, đơn vị quân đội, chủ nghiệm các hợp tác xã, chủ hộ tập thể, chủ hộ gia đình, khi phát hiện hoặc nghi có bệnh dịch trong đơn vị hoặc gia đình mình, phải khai báo ngay với cơ quan y tế ở nơi gần nhất .

Điều 2. – Khi có bệnh dịch xảy ra ở địa phương nào thì Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố nơi đó, theo đề nghị của cơ quan y tế, phải ra lệnh thi hành những biện pháp bao vây, dập tắt ổ dịch.

Điều 3. – Đề phòng và chống các bệnh dịch, mọi người phải uống hoặc tiêm, chủng một số thuốc sinh hóa và nghiêm chỉnh thi hành các biện pháp phòng và chống dịch do Bộ Y tế hoặc Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.

Điều 4. – Mọi người vào, ra biên giới nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều phải tuân theo thể lệ kiểm dịch biên giới quy định trong Nghị định số 248-TTg ngày 08 tháng 5 năm 1958.

III. VỆ SINH TRONG LAO ĐỘNG

Điều 5. – Thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp, chủ nhiệm các hợp tác xã phải chăm lo sức khỏe của công nhân, viên chức, xã viên trong đơn vị mình phụ trách; phải thành lập và kiện toàn tổ chức y tế của đơn vị mình để làm tốt công tác phòng bệnh, chữa bệnh; phải lập và tổ chức thực hiện kế hoạch vệ sinh phòng bệnh.

Điều 6. - Nơi làm việc của công nhân, viên chức của Nhà nước và xã viên các hợp tác xã phải hợp vệ sinh, thoáng khí, có đủ ánh sáng và không có khói, bụi, hơi độc, độ ẩm, độ nóng vượt quá mức quy định.

Ở những nơi làm việc có nhiều khói, bụi, hơi độc, hoặc độ ẩm, độ nóng cao, thì công nhân, viên chức, xã viên phải được khám sức khỏe định kỳ và được trang bị các dụng cụ cần thiết đề phòng và chống khói, bụi, hơi độc, ẩm, nóng.

Điều 7. – Phải bố trí công nhân, viên chức Nhà nước, xã viên hợp tác xã là phụ nữ làm những công việc hợp với sức khỏe và sinh lý của phụ nữ. Không được dùng phụ nữ có thai và thiếu niên dưới 16 tuổi làm việc ở những nơi có nhiều chất độc hoặc làm những việc quá nặng nhọc. Ở những cơ quan, xí nghiệp… có nhiều phụ nữ làm việc phải có các phương tiện vệ sinh riêng cho phụ nữ.

IV. VỆ SINH VỀ CÁC THỨC ĂN, UỐNG, THUỐC HÚT

Điều 8. – Những khúc sông, đoạn suối, giếng nước dùng vào việc ăn uống của nhân dân, phải được giữ gìn sạch sẽ và phải được bảo vệ. Cấm tắm giặt và vất những vật dơ bản ở trong khu vực này.

Nước do nhà máy nước cung cấp phải hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế.

Ở những nơi chưa có nhà máy nước, cần đào giếng khơi hoặc xây bể lọc nước hợp vệ sinh.

Điều 9. – Các cơ sở sản xuất, chế biến, bảo quản, mua bán các thức ăn, uống, thuốc hút, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, các cửa hàng ăn uống phải có đủ các điều kiện vệ sinh theo quy định của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Những nguyên liệu dùng để sản xuất, chế biến các thức ăn uống, thuốc hút, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh phải có phẩm chất tốt và hợp vệ sinh.

Máy móc, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, chế biến, chứa đựng, đóng gói, bảo quản, chuyên chở các thức ăn uống, thuốc hút, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh phải có đủ điều kiện vệ sinh.

Điều 10. – Việc sản xuất hàng loạt các thức ăn uống để lâu ngày, thuốc hút, thuốc chữa bệnh; phòng bệnh phải theo đúng công thức đã được quy định; mỗi loạt sản xuất phải có hồ sơ riêng.

Điều 11. – Không ai được bán ra thị trường các thức ăn, uống, thuốc hút, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh hư hỏng có hại đến sức khỏe của người dùng.

Điều 12. – Những người trực tiếp sản xuất thức ăn, uống, thuốc hút, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh phải được khám sức khỏe định kỳ, người đang mắc bệnh truyền nhiễm phải được phép nghỉ việc hoặc chuyển sang làm việc khác.

V. VỆ SINH TRONG CÁC TRƯỜNG HỌC, NHÀ GỬI TRẺ VÀ TRÊN CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG, VẬN CHUYỂN

Điều 13. – Các trường học, nhà gửi trẻ phải đặt xa nơi có nhiều chất độc, chất hôi thối. Các lớp học, phòng gửi trẻ cần có đủ ánh sáng, không khí và diện tích quy định theo đầu người. Bàn ghế, đồ dùng để học cần thích hợp với từng lứa tuổi.

Điều 14. – Giáo viên, người nuôi dạy trẻ, học sinh và trẻ em đang mắc những bệnh truyền nhiễm không được đến lớp học, nhà gửi trẻ.

Người đang mắc bệnh lao, bệnh hủi không được làm giáo viên hoặc làm nghề nuôi dạy trẻ.

Điều 15. – Xe lửa, tàu thủy, ca-nô, máy bay chở hành khách phải có những phương tiện vệ sinh như nước rửa, hố xí.

Không được chuyên chở hành khách chung với người đang mắc các bệnh dịch nguy hiểm, hàng hóa hôi thối, có chất độc.

VI. VỆ SINH TRONG VIỆC XÂY DỰNG NHÀ LÀM VIỆC, NHÀ Ở, NHÀ ĂN, NHÀ VĂN HÓA

Điều 16. – Từ nay, các cơ quan có trách nhiệm, khi xét duyệt thiết kế những nhà sẽ xây dựng ở các thành phố, thị xã, những xí nghiệp, nhà ở… do Nhà nước xây dựng, phải xét duyệt cả mặt thiết kế về vệ sinh; nếu trong khi thi công có vi phạm nghiêm trọng về mặt vệ sinh, thì phải sửa chữa kịp thời, hoặc hoãn việc xây dựng để sửa chữa.

Đối với những nhà mới sẽ xây dựng của nhân dân ở nông thôn, nên để một khoảng cách thích đáng giữa nhà ở với chuồng gia súc, hố xí và nơi chứa phân, rác.

Điều 17. – Đối với những nhà cũ không hợp vệ sinh ở các thành phố, thị xã, cần sửa chữa lại cho hợp vệ sinh hơn, hoặc thi hành các biện pháp cần thiết về vệ sinh.

VII. VỆ SINH TRONG VIỆC THẢI PHÂN, RÁC, NƯỚC BẨN, KHÓI, BỤI, HƠI ĐỘC

Điều 18. – Ở trụ sở các cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, ở nhà ở và nơi tập trung đông người, phải có hố xí, nước rửa và dụng cụ hợp vệ sinh để đựng phân, rác.

Điều 19. – Việc lấy, chuyên chở, chế biến, sử dụng phân, rác phải theo đúng những điều kiện vệ sinh do Ủy ban hành chính địa phương quy định.

Nơi tập trung phân, rác phải xa nhà ở, cơ quan, xí nghiệp, nguồn nước uống, đường giao thông chính, nơi tập trung đông người.

Điều 20. – Các cơ sở sản xuất, chế biến, các bệnh viện phải có hệ thống cống để thải các thứ nước bẩn; phải khử độc, khử trùng những nước thải có nhiều chất độc hoặc vi trùng gây bệnh.

Điều 21. Đối với các cơ sở sản xuất, chế biến, các phòng thí nghiệm, lò đốt bông băng của các bệnh viện có nhiều khói, bụi, hơi độc thì phải thu hồi bụi, khử độc hoặc thải các khói, bụi, hơi độc này ở trên độ cao cần thiết.

Đối với các cơ sở sản xuất, chế biến, các phòng thí nghiệm, lò đốt bông băng của các bệnh viện có nhiều khói, bụi, hơi độc hoặc tiếng động mạnh, thì phải đặt ở khoảng cách cần thiết đối với cơ quan, nhà ở, xí nghiệp khác và nơi tập trung đông người theo đúng quy định về vệ sinh.

VIII. VỆ SINH TRONG VIỆC CHÔN CẤT, BỐC MỒ VÀ DI CHUYỂN XÁC CHẾT, HÀI CỐT

Điều 22. – Phải chôn hoặc hỏa táng người chết ở những nơi được quy định, chậm nhất là 48 giờ sau khi chết. Trường hợp đặc biệt không chôn hoặc hỏa táng kịp trong thời gian trên, thì phải khâm liệm theo đúng những quy định về vệ sinh của Bộ Y tế.

Phải chôn những người chết vì các bệnh dịch sớm hơn quy định trên đây, và chôn ở nơi được quy định gần nhất theo đúng những quy định về phòng dịch.

Điều 23. – Việc bốc mộ, di chuyển xác người chết, hài cốt, việc sử dụng đất ở nơi đã bốc mộ, phải theo đúng những quy định về vệ sinh phòng dịch.

Điều 24. – Việc di chuyển xác người chết qua biên giới nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải được phép của Chính phủ hoặc của một cơ quan được Chính phủ ủy nhiệm và phải khâm liệm theo đúng những quy định của Bộ Y tế.

IX. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ NHỮNG TRƯỜNG HỢP VI PHẠM ĐIỀU LỆ GIỮ GÌN VỆ SINH, BẢO VỆ SỨC KHỎE

Điều 25. – Bộ Y tế có trách nhiệm quy định chi tiết và giải thích, hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành điều lệ này với tinh thần tích cực, đồng thời phải chiếu cố đầy đủ đến điều kiện hiện nay ở nước ta.

Điều 26. – Căn cứ vào điều lệ này và những quy định chi tiết của Bộ Y tế, các ông Bộ trưởng các Bộ, các ông thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, sẽ ban hành những thể lệ và quyết định những biện pháp nhằm giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe trong các đơn vị trực thuộc và trong nhân dân ở từng vùng cho sát hợp với những điều kiện cụ thể của từng ngành, từng địa phương.

Điều 27. – Cá nhân hoặc đơn vị nào vi phạm những quy định của Nhà nước về việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe, thì tùy theo từng trường hợp, sẽ bị phê bình, cảnh cáo, xử phạt vi cảnh theo thể lệ quản lý trị an của địa phương hoặc truy tố trước tòa án.

Văn bản được căn cứ
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 194-CP năm 1964 ban hành điều lệ giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe do Hội đồng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 194-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 31/12/1964
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 31/12/1964
Số công báo: Số 48
Ngày hiệu lực: 15/01/1965
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Thể thao - Y tế
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 194-CP năm 1964 ban hành điều lệ gi...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký