Nghị định 203-CP được ban hành năm 1962 bởi Hội đồng Chính phủ nhằm quy định những nguyên tắc cơ bản về quản lý phương tiện vận tải đường biển, bảo đảm an toàn và trật tự giao thông trong hải phận, các cảng và khúc sông tàu biển có thể ra vào của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định áp dụng đối với tất cả các phương tiện đi biển thuộc cơ quan Nhà nước, xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã, tập đoàn hoặc cá nhân (bao gồm cả phương tiện vận tải và phương tiện chuyên dùng như tàu kéo, tàu cuốc, tàu hoa tiêu, tàu thuyền đánh cá). Các phương tiện của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vũ trang được miễn trừ một số thủ tục đăng ký nhưng bắt buộc phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn giao thông đường biển. Ngoài ra, nghị định cũng áp dụng đối với tàu thuyền nước ngoài hoạt động trong hải phận Việt Nam.
1. Quy định về quản lý, đăng ký và kiểm tra kỹ thuật phương tiện đi biển
- Cơ quan quản lý: Bộ Giao thông vận tải phân công cho các Sở, Ty Giao thông vận tải, Ty Cảng vụ, cơ quan đăng ký và kiểm tra giao thông đường biển thực hiện việc xếp loại, đăng ký, cấp giấy tờ, khám xét phương tiện và phối hợp với Cảnh sát nhân dân kiểm tra an toàn.
- Giấy phép đi lại và kiểm định: Phương tiện chỉ được hoạt động khi có giấy phép đi lại (chỉ cấp khi đủ điều kiện an toàn, vệ sinh). Việc đóng mới, cải tạo, sửa chữa lớn làm thay đổi tính chất phương tiện phải được duyệt thiết kế trước khi thi công. Phương tiện phải được khám xét định kỳ hoặc bất thường; nếu không đạt yêu cầu, cơ quan quản lý có quyền tạm thu hồi giấy phép.
- Giấy tờ trên tàu: Sau khi đăng ký, phương tiện được cấp các giấy tờ cần thiết. Thuyền trưởng có trách nhiệm bảo quản và xuất trình khi có yêu cầu; nếu thiếu giấy tờ khi lưu thông, thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm.
2. Quy định về thuyền bộ, lao động và bằng cấp chuyên môn
- Định biên và quản lý nhân sự: Trừ bè mảng và thuyền đánh cá nhỏ, mỗi phương tiện phải có Thuyền trưởng chỉ huy và định biên số lượng công nhân viên do cơ quan có thẩm quyền ấn định. Tất cả công nhân viên phải đăng ký để được cấp "sổ công nhân viên trên tàu" (hoặc hộ chiếu nếu đi nước ngoài). Mọi thay đổi nhân sự phải được phê duyệt và ghi nhận vào sổ danh sách.
- Yêu cầu bằng cấp: Thuyền trưởng, thợ máy, thợ điện trên phương tiện cơ giới phải có bằng cấp do cơ quan Giao thông vận tải cấp. Vô tuyến điện viên phải có bằng do Tổng cục Bưu điện và truyền thanh cấp. Việc đào tạo, sát hạch cho nhân sự tàu đánh cá có sự phối hợp giữa Bộ Giao thông vận tải và Tổng cục Thủy sản.
3. Bảo đảm an toàn giao thông và bảo vệ công trình hàng hải
- Cấm cản trở giao thông: Nghiêm cấm các hành vi cản trở giao thông đường biển. Phương tiện không được neo đậu trong luồng lạch trừ trường hợp bất khả kháng. Việc cắm đăng, đáy, chà rào đánh cá phải theo hướng dẫn của cơ quan chức năng để không gây trở ngại luồng lạch và phải có tín hiệu cảnh báo theo quy định.
- Bảo vệ công trình cảng: Nghiêm cấm làm hư hại cầu tàu, nhà đèn, phao tiêu; tuyệt đối cấm buộc tàu vào phao chỉ luồng. Nếu gây hư hại phải bồi thường; nếu làm xê dịch phao phải báo ngay cho Ban Giám đốc Cảng.
- Xây dựng công trình: Mọi công trình xây dựng, thiết bị lắp đặt tại các vịnh, khúc sông tàu biển ra vào được phải có sự cho phép của Bộ Giao thông vận tải; trong phạm vi cảng phải được Ban Giám đốc Cảng thỏa thuận.
- Xử lý phương tiện bị đắm, cạn: Thuyền trưởng phải báo cáo ngay và đặt biển cảnh báo nguy hiểm. Chủ phương tiện có trách nhiệm trục vớt theo thời hạn quy định; nếu quá hạn, cơ quan chức năng sẽ tự trục vớt và chủ phương tiện chịu mọi chi phí. Nếu từ chối trục vớt hoặc không thanh toán chi phí, chủ phương tiện sẽ mất quyền sở hữu đối với phương tiện đó.
4. Quy chế đối với tàu thuyền nước ngoài
- Cảng mở giao dịch: Chỉ có 4 cảng được mở để giao dịch với nước ngoài gồm: Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả, Bến Thủy. Tàu buôn nước ngoài chỉ được ra vào các cảng này để giao nhận hàng và chở khách. Tàu đánh cá nước ngoài được phép hoạt động chỉ được đậu tại các bến do Bộ Giao thông vận tải quy định sau khi thống nhất với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Tổng cục Thủy sản.
- Thủ tục ra vào và hoạt động: Tàu buôn nước ngoài phải xin phép Bộ Giao thông vận tải trước khi vào cảng, cung cấp đầy đủ thông tin về tàu, thuyền viên, hành khách và hàng hóa. Khi neo đậu và di chuyển trong hải phận Việt Nam, tàu phải treo quốc kỳ nước mình, và phải treo thêm quốc kỳ Việt Nam vào các ngày quốc lễ của Việt Nam. Trường hợp bất khả kháng phải lánh nạn ở nơi khác, thuyền trưởng phải báo ngay cho chính quyền địa phương.
- Hoa tiêu bắt buộc: Tàu nước ngoài ra vào các cảng quy định bắt buộc phải sử dụng hoa tiêu dẫn đường. Thuyền trưởng vẫn chịu trách nhiệm an toàn cho tàu và có quyền đình chỉ hoa tiêu nếu phát hiện yếu kém nghiệp vụ. Nếu xảy ra tai nạn do lỗi hoa tiêu, hoa tiêu bị xử lý hình sự còn chủ tàu chịu trách nhiệm dân sự.
5. Cứu nạn và giải quyết tai nạn đâm va
- Nghĩa vụ cứu nạn: Khi xảy ra tai nạn trong hải phận Việt Nam, Thuyền trưởng phải lập tức thực hiện các biện pháp khẩn cấp để cứu người và hàng hóa. Trong tai nạn đâm va, tàu không bị nạn hoặc bị nhẹ có nghĩa vụ tối đa cứu giúp tàu bị nạn. Các tàu khác đi ngang qua hoặc nhận được tín hiệu cứu nạn cũng phải tham gia ứng cứu và chỉ được rời đi khi không còn cần thiết.
- Báo cáo tai nạn: Thuyền trưởng phải báo tin ngay cho chính quyền địa phương hoặc Cảng Hải Phòng (nếu có thiết bị vô tuyến) và lập báo cáo chi tiết. Trường hợp đâm va, cả hai thuyền trưởng đều phải báo cáo.
6. Kiểm soát, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp
- Chấp hành kiểm soát: Tất cả phương tiện (kể cả của quân đội, công an vũ trang và tàu nước ngoài) phải chấp hành luật lệ giao thông đường biển và chịu sự kiểm soát của cơ quan chức năng.
- Chế tài xử lý: Hành vi vi phạm trật tự, an toàn tại cảng và hải phận sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tiền. Vi phạm nghiêm trọng gây tai nạn hoặc thiệt hại tài sản sẽ bị truy tố trước Tòa án; phương tiện vi phạm có thể bị tạm giữ để điều tra.
- Giải quyết tranh chấp nước ngoài: Mọi tranh chấp giữa chủ tàu nước ngoài với các cơ quan, xí nghiệp Việt Nam về việc ra vào cảng, hợp đồng vận chuyển, xếp dỡ, cứu hộ, bồi thường... đều thuộc thẩm quyền xét xử của Ủy ban Trọng tài hàng hải Việt Nam.
- Thẩm quyền lập biên bản và tuần tra: Các chức danh có quyền lập biên bản vi phạm gồm: Thanh tra hàng hải; Trưởng, Phó Ty Cảng vụ (và người được ủy quyền); Giám đốc, Phó Giám đốc Sở Vận tải, Trưởng, Phó Ty Giao thông (và người được ủy quyền); Trưởng, Phó Ty Công an (và người được ủy quyền). Lực lượng tuần tra của Công an nhân dân vũ trang và Cảnh sát nhân dân phối hợp với cơ quan Giao thông vận tải để kiểm soát và duy trì trật tự.
7. Điều khoản thi hành và hiệu lực
- Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Nghị định này.
- Các Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản và Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố miền biển chịu trách nhiệm thi hành.
Hiệu lực thi hành: Nghị định có hiệu lực kể từ ngày ban hành (năm 1962) và được triển khai thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc dưới sự hướng dẫn chi tiết của Bộ Giao thông vận tải.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 203-CP | Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 1962 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Theo đề nghị của Bộ Giao thông vận tải;
Căn cứ vào nghị quyết Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 25 tháng 05 năm 1962,
NGHỊ ĐỊNH:
- Xếp loại các phương tiện đi biển, đăng ký và cấp những giấy tờ cần thiết cho các loại phương tiện này;
- Khám xét phương tiện thi biển;
- Kiểm tra việc chấp hành các thể lệ về quản lý phương tiện đi biển, việc bảo đảm phương tiện luôn luôn được tốt và đủ các điều kiện về an toàn và vệ sinh;
- Phối hợp với cơ quan Cảnh sát nhân dân kiểm tra an toàn giao thông đường biển.
Cơ quan, xí nghiệp hay tổ chức nào muốn đóng mới, khôi phục, đổi mới một phương tiện hoặc sửa chữa lớn, làm thay đổi hẳn tính chất chuyên chở của phương tiện đi biển, phải trình cơ quan Giao thông vận tải có thẩm quyền xét duyệt đồ án thiết kế mới trước khi khởi công.
Ngoài trường hợp khám xét để lấy giấy phép đi lại, các phương tiện đi biển còn phải được thường kỳ khám xét lại theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Nếu cơ quan quản lý, cơ quan trực tiếp sử dụng phương tiện hoặc thuyền trưởng yêu cầu thì phương tiện đi biển còn được khám xét bất thường.
Qua việc khám xét, nếu phương tiện đi biển không đủ điều kiện an toàn và vệ sinh, thì cơ quan Giao thông vận tải có quyền tạm thời rút giấy phép đi lại của phương tiện này đến lúc phương tiện đã được sửa chữa.
THUYỀN TRƯỞNG, VÀ CÔNG NHÂN VIÊN LÀM VIỆC TRÊN TÀU
Cơ quan Giao thông vận tải cấp cho mỗi địa phương tiện đi biển một sổ ghi tên công nhân viên trên tàu. Công nhân viên công tác trên mỗi phương tiện đi biển đều phải ghi tên vào sổ ghi tên ấy. Mọi sự thay thế, thêm, bớt công nhân viên trên tầu đều phải được cơ quan Giao thông vận tải có thẩm quyền xét duyệt và chứng nhận vào sổ ghi tên công nhân viên trên tầu.
Riêng đối với các tầu và thuyền đánh cá biển, Bộ Giao thông vận tải và Tổng cục Thủy sản sẽ có quy định riêng về việc khai báo danh sách và về sổ ghi tên công nhân viên trên tầu.
Để quản lý công nhân viên trên tầu được tốt, các cơ quan chủ phương tiện đi biển và cơ quan Giao thông vận tải phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an trong việc sử dụng, cấp “sổ công nhân viên trên tầu” cấp hộ chiếu cho công nhân trên tầu đi ra nước ngoài v .v…
Bộ Giao thông vận tải quy định những điều kiện về việc cấp bằng cho thuyền trưởng, thợ máy, thợ điện, về năng lực của công nhân trên tầu, đồng thời tổ chức việc đào tạo, sát hạch và cấp bằng cho Thuyền trưởng, thợ máy và thợ điện của các phương tiện đi biển. Đối với thuyền trưởng và thợ máy của tầu đánh cá, các việc đào tạo, sát hạch và cấp bằng sẽ do Bộ Giao thông vận tải cùng Tổng cục Thủy sản quy định.
BẢO VỆ LUỒNG LẠCH VÀ CÁC CỬA KHẨU
Điều 9. – Nghiêm cấm tất cả những hành động cản trở giao thông đường biển.
Trừ trường hợp tối cần thiết, phương tiện đi biển không được neo, đậu trong luồng đi lại.
Ở những luồng lớn và những nơi có những phương tiện đi biển qua lại, các đăng, đáy cá và chà rào đánh cả chỉ được cắm theo sự hướng dẫn của cơ quan Giao thông vận tải. Ở những luồng nhỏ, nước nông không có phương tiện đi biển lớn qua lại, thì cơ quan Thủy sản hướng dẫn ngư dân cắm đăng, đáy và chà rào theo đúng quy định của ngành Giao thông để không gây trở ngại cho sự đi lại.
Khi cần làm những công tác như nạo xét luồng lạch, đặt hoặc với phao tiêu v .v… cơ quan có trách nhiệm thi công phải bố trí sắp xếp công việc để giao thông không bị gián đọan hoặc rút ngắn thời gian gián đoạn giao thông đến mức tối thiểu cần thiết, đồng thời phải xin phép Bộ Giao thông vận tải và yết báo ở trên các bến tầu, các cảng.
Nếu thấy trên luồng đi lại có chướng ngại vật không có tín hiệu, người đi biển có nhiệm vụ báo ngay cho cơ quan Giao thông vận tải địa phương hoặc cảng gần nhất biết.
Trong phạm vi của các cảng, không một cơ quan, tổ chức nào được xây dựng bất cứ một công trình nào hoặc đặt bất cứ một thiết bị nào nếu không được Ban Giám đốc Cảng thỏa thuận.
Khi phương tiện đi biển bị đắm hay mắc cạn, người chủ phương tiện có nhiệm vụ trục, vớt phương tiện ấy theo đúng các thủ tục, luật lệ và thời hạn do cơ quan Giao thông vận tải ấn định. Nếu quá thời hạn quy định hoặc chủ phương tiện thiếu dụng cụ trục vớt thì cơ quan Giao thông vận tải có thể tự mình làm việc trục, vớt chủ phương tiện phải chịu mọi phí tổn. Nếu chủ phương tiện đi biển bị đắm hay mắc cạn không muốn trục, vớt hoặc không chịu mọi phí tổn về việc trục vớt thì chủ phương tiện mất quyền sở hữu đối với phương tiện ấy.
Điều 14. – Những cảng sau đây được mở để giao dịch với nước ngoài:
- Cảng Hải-phòng;
- Cảng Hòn-gay;
- Cảng Cẩm-phả;
- Cảng Bến-thủy;
Tàu buôn nước ngoài chỉ được ra vào bốn cảng trên để giao hàng, nhận hàng và chuyên chở hành khách.
Các tầu và thuyền đánh cá của những nước đã được nước Việt-nam dân chủ cộng hòa cho phép đánh cá ở hải phận Việt-nam được đậu ở một số bến khác nữa do Bộ Giao thông vận tảiquy định sau khi đã thỏa thuận với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Tổng cục Thủy sản.
Nếu vì tránh tai nạn hoặc vì bị hư hỏng mà phương tiện đi biển của nước ngoài bắt buộc phải vào một địa điểm khác thuộc bờ biển của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa ngoài những cảng và bến đậu đã quy định, thì Thuyền trưởng phải tìm cách báo ngay cho nhà chức trách địa phương biết và phải chấp hành chỉ thị của nhà chức trách địa phươngvề mặt an ninh, trật tự.
Trong những ngày quốc lễ của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa, các phương tiện đi biển nước ngoài đậu ở trong cảng và hải phận của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa phải treo quốc kỳ của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa.
ĐỀ PHÒNG TAI NẠN VÀ NHIỆM VỤ CỨU TRỢ KHI XẢY RA TAI NẠN
Trong trường hợp hai phương tiện đi biển đâm vào nhau nếu một cái bị hư hại nặng, tính mạng hành khách và công nhân viên trên tàu bị đe dọa, thì cái không bị hư hại hoặc bị hư hại nhẹ phải hết sức cứu vớt hành khách, công nhân viên và tầu bị nạn. Trong tất cả các trường hợp có phương tiện đi biển bị tai nạn, các phương tiện đi biển khác đi qua hoặc nhận được tín hiệu cấp cứu đều có nhiệm vụ cứu cái bị nạn. Phương tiện tham gia vào việc cứu trợ chỉ được rời nơi xẩy ra tai nạn sau khi đã làm xong nhiệm vụ và xét thấy sự có mặt của mình không cần thiết nữa.
Điều 20. – Khi xẩy ra tai nạn, Thuyền trưởng của phương tiện đi biển bị nạn phải tìm mọi cách báo tin ngay cho nhà chức trách địa phương biết và sau đó phải làm báo cáo cụ thể về tình hình tai nạn. Nếu phương tiện đi biển bị nạn có thiết bị thông tin vô tuyến điện, thì phải báo tin ngay cho Cảng Hải-phòng.
Trong trường hợp hai phương tiện đi biển đâm vào nhau, thì cả hai Thuyền trưởng đều phải báo tin và làm báo cáo cho các nhà chức trách như quy định ở trên đây.
CHẤP HÀNH THỂ LỆ XỬ LÝ CÁC VỤ VI PHẠM THỂ LỆ VÀ TRANH CHẤP
a) Nghiêm chỉnh chấp hành những luật lệ về giao thông vận tải đã được ban hành. Những phương tiện đi biển của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vũ trang cũng phải chấp hành đầy đủ những thể lệ về an toàn giao thông đường biển.
b) Chịu sự kiểm soát của các nhà chức trách.
Điều 24. – Những cán bộ sau đây có quyền lập biên bản về các vụ vi phạm thể lệ giao thông:
- Các Thanh tra hàng hải;
- Trưởng ty và Phó ty Cảng vụ và các cán bộ được Trưởng ty Cảng vụ ủy nhiệm;
- Giám đốc, Phó giám đốc Sở Vận tải, Trưởng ty và Phó ty Giao thông và những cán bộ được Giám đốc Sở Vận tải và Trưởng ty Giao thông ủy nhiệm;
- Trưởng ty, Phó ty Công an và các cán bộ được Trưởng ty Công an ủy nhiệm.
Điều 26. – Ông Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải sẽ quy định chi tiết thi hành nghị định này.
| TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
- 1 Quyết định 2116-VP/QĐ năm 1968 về việc ủy quyền kiểm soát, lập biên bản và xử lý các vụ vi phạm điều lệ về kỷ luật an toàn giao thông vận tải thời chiến do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 2 Quyết định 207-HĐBT năm 1991 huỷ bỏ các văn bản pháp luật do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004
- 4 Quyết Định 359-QĐ năm 1976 Ban hành bản Điều lệ vận chuyển hành khách bằng tầu biểu chạy trong nước của Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải
- 1 Quyết định 207-HĐBT năm 1991 huỷ bỏ các văn bản pháp luật do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Quyết định 94-CP năm 1980 sửa đổi Nghị định 203-CP năm 1962 về giao thông vận tải đường biển do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3 Quyết định 476-TTg năm 1978 sửa đổi Nghị định 203-CP năm 1962 về giao thông vận tải đường biển[2][1] do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1 Quyết định 2116-VP/QĐ năm 1968 về việc ủy quyền kiểm soát, lập biên bản và xử lý các vụ vi phạm điều lệ về kỷ luật an toàn giao thông vận tải thời chiến do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 2 Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004
- 3 Quyết Định 359-QĐ năm 1976 Ban hành bản Điều lệ vận chuyển hành khách bằng tầu biểu chạy trong nước của Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải