Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định số 24-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1981 nhằm sửa đổi tổ chức trọng tài Nhà nước về kinh tế, tập trung vào việc kiện toàn bộ máy, thống nhất tên gọi, bãi bỏ chế độ kiêm chức và thiết lập ngạch trọng tài viên chuyên trách trên phạm vi cả nước.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với hệ thống các cơ quan trọng tài kinh tế ở tất cả các cấp bao gồm cấp Nhà nước, cấp Bộ, Tổng cục và cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương; các trọng tài viên kinh tế; các cơ quan quản lý nhà nước cùng các đơn vị kinh tế cơ sở trong hoạt động ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế.

Thống nhất tên gọi các cơ quan trọng tài kinh tế

Nghị định chính thức thay đổi và thống nhất tên gọi của các cơ quan trọng tài kinh tế như sau:

  • Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước cấp Trung ương đổi tên thành Trọng tài kinh tế Nhà nước.
  • Hội đồng trọng tài kinh tế cấp Bộ, Tổng cục đổi tên thành Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục.
  • Hội đồng trọng tài kinh tế cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương đổi tên thành Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu.

Cơ cấu lãnh đạo và thẩm quyền bổ nhiệm, bãi miễn

Nghị định quy định chi tiết về nhân sự lãnh đạo đứng đầu các cơ quan trọng tài kinh tế các cấp:

  • Trọng tài kinh tế Nhà nước: Do một Chủ tịch phụ trách và có hai Phó Chủ tịch giúp việc. Các chức danh này do Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm và bãi miễn.
  • Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục: Do một Chủ tịch phụ trách và một Phó Chủ tịch giúp việc. Chủ tịch do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Bộ trưởng, Tổng cục trưởng. Phó Chủ tịch do Bộ trưởng, Tổng cục trưởng bổ nhiệm và bãi miễn sau khi có sự thỏa thuận với Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.
  • Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương: Do một Chủ tịch phụ trách và một Phó Chủ tịch giúp việc. Chủ tịch do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh. Phó Chủ tịch do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thỏa thuận với Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Bãi bỏ chế độ thành viên kiêm chức

Để nâng cao tính chuyên nghiệp, độc lập và khách quan trong hoạt động xét xử tranh chấp kinh tế, Nghị định chính thức bãi bỏ hoàn toàn chế độ thành viên kiêm chức tại Trọng tài kinh tế Nhà nước cũng như tại các Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương.

Thành lập ngạch trọng tài viên và các quy định liên quan

Nghị định thiết lập ngạch trọng tài viên chuyên trách thuộc hệ thống các cơ quan trọng tài kinh tế với các quy định cụ thể:

  • Nhiệm vụ và quyền hạn của trọng tài viên:
    • Căn cứ vào pháp luật để xét xử các vụ tranh chấp về hợp đồng kinh tế theo sự phân công của người đứng đầu cơ quan trọng tài cùng cấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
    • Xử phạt vi phạm hợp đồng kinh tế và buộc bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại thực tế gây ra.
    • Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm đối với các tổ chức và cá nhân có lỗi gây vi phạm hợp đồng, làm thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa.
    • Thanh tra việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế nhằm chủ động phòng ngừa các vi phạm kỷ luật hợp đồng.
    • Thông qua công tác xét xử và thanh tra để phát hiện thiếu sót của các đơn vị kinh tế cơ sở và cơ quan quản lý cấp trên; tìm ra nguyên nhân và kiến nghị biện pháp khắc phục, hướng mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng pháp luật.
    • Tuân thủ nghiêm túc các quy định nghiệp vụ xét xử, thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.
    • Quyết định của trọng tài viên có hiệu lực thi hành đối với các đương sự và cơ quan liên quan. Đương sự có quyền kháng cáo nhưng vẫn phải chấp hành quyết định trong thời gian chờ giải quyết.
  • Tiêu chuẩn của trọng tài viên:
    • Về chức vụ: Trọng tài viên thuộc Trọng tài kinh tế Nhà nước và cấp Bộ, Tổng cục phải là cán bộ cấp vụ hoặc tương đương. Trọng tài viên thuộc cấp tỉnh, thành phố, đặc khu phải là cán bộ cấp sở, ty hoặc tương đương.
    • Về phẩm chất: Phải trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất chính trị tốt, liêm khiết, công minh, có kiến thức pháp lý và quản lý kinh tế cần thiết, am hiểu nghiệp vụ trọng tài và kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
  • Số lượng trọng tài viên tại các cấp:
    • Trọng tài kinh tế Nhà nước: Có từ 7 đến 9 trọng tài viên.
    • Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục: Có từ 3 đến 5 trọng tài viên.
    • Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương: Có từ 3 đến 5 trọng tài viên.
  • Thủ tục bổ nhiệm và bãi miễn trọng tài viên:
    • Trọng tài viên chính thức cấp Nhà nước do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm và bãi miễn; trọng tài viên dự bị do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước bổ nhiệm và bãi miễn.
    • Trọng tài viên cấp Bộ, Tổng cục do Bộ trưởng, Tổng cục trưởng bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thỏa thuận với Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.
    • Trọng tài viên cấp tỉnh, thành phố, đặc khu do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thỏa thuận với Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.
    • Trọng tài viên có thể bị bãi miễn nếu không đảm đương được nhiệm vụ, vi phạm nghiêm trọng tiêu chuẩn đạo đức, nghiệp vụ hoặc vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Nhà nước.

Tổ chức bộ máy làm việc và cải tổ cơ cấu bên trong

  • Bộ máy làm việc của Trọng tài kinh tế cấp Bộ, Tổng cục và cấp tỉnh do Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn sau khi thống nhất với Ban tổ chức của Chính phủ.
  • Sửa đổi cơ cấu của Trọng tài kinh tế Nhà nước (thay thế quy định tại Quyết định số 157-CP ngày 11/8/1975): Đổi Vụ xét xử thành Vụ pháp chế.
  • Vụ pháp chế có nhiệm vụ giúp Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước trong việc: Nghiên cứu, xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế; sưu tầm, hệ thống hóa và cung cấp văn bản pháp luật phục vụ công tác; giám sát tính đúng đắn của các kết luận thanh tra, biên bản xét xử và quyết định xét xử của các cơ quan trọng tài kinh tế.

Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước chịu trách nhiệm hướng dẫn và giải thích việc thi hành. Các Bộ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. Văn bản do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký ban hành.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 24-HĐBT

Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 1981

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 24-HĐBT NGÀY 10-8-1981 SỬA ĐỔI BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỂM VỀ TỔ CHỨC TRỌNG TÀI NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Điều 107 Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng;
Căn cứ vào điều lệ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Chính phủ ban hành theo Nghị định số 172-CP ngày 1/11/1973 và Nghị định số 35-CP ngày 9/21981 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng của Bộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước;
Căn cứ vào Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước ban hành theo Nghị định số 75-CP ngày 14/4/1975 của Hội đồng Chính phủ và bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Hội đồng trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo Quyết định số 263-TTg ngày 2/8/1979 của Thủ tướng Chính phủ;
Theo đề nghị của đồng chí Chủ tịch Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước;
Để kiện toàn tổ chức và phát huy hiệu lực của công tác trọng tài Nhà nước về kinh tế.

NGHỊ ĐỊNH :

Điều 1: Thống nhất tên gọi các cơ quan trọng tài kinh tế như sau:

Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước cấp Trung ương nay gọi là Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Hội đồng trọng tài kinh tế cấp Bộ, Tổng cục nay gọi là Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục.

Hội đồng trọng tài kinh tế cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương nay gọi là Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu.

Điều 2: Trọng tài kinh tế Nhà nước do chủ tịch phụ trách, có hai phó chủ tịch giúp việc. Chủ tịch và các phó chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm và bãi miễn.

Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục do chủ tịch phụ trách, có một Phó chủ tịch giúp việc. Chủ tịch Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của Bộ trưởng, Tổng cục trưởng. Phó chủ tịch Trọng tài kinh tế bộ, tổng cục do bộ trưởng, tổng cục trưởng bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thoả thuận với chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do chủ tịch phụ trách, có một phó chủ tịch giúp việc. Chủ tịch Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghị của chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu. Phó chủ tịch trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thoả thuận với chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Điều 3: Từ nay bãi bỏ chế độ thành viên kiêm chức ở Trọng tài kinh tế Nhà nước và ở các Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục, tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương.

Điều 4: Thành lập ngạch trọng tài viên thuộc hệ thống các cơ quan trọng tài kinh tế:

a. Nhiệm vụ, quyền hạn của trọng tài viên:

Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước, xét xử các vụ tranh chấp về hợp đồng kinh tế theo sự phân công của người đứng cơ quan trọng tài kinh tế cùng cấp nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ký hợp đồng.

Căn cứ vào pháp luật của Nhà nước về hợp đồng kinh tế, về trọng tài kinh tế, xử phạt vi phạm hợp đồng kinh tế và buộc bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại gây ra.

Trong trường hợp cần thiết, kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm đối với những tổ chức và cá nhân phạm lỗi, gây ra vụ vi phạm hợp đồng kinh tế, làm thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa.

Thanh tra việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế nhằm phòng ngừa các vụ vi phạm kỷ luật hợp đồng kinh tế.

Thông qua công tác xét xử các vụ tranh chấp về hợp đồng kinh tế và công tác thanh tra việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế, phát hiện thiếu sót của đơn vị kinh tế cơ sở và các cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị kinh tế cơ sở trong việc chấp hành chế độ hợp đồng kinh tế và các chính sách, chế độ quản lý có liên quan; tìm ra nguyên nhân và kiến nghị những biện pháp nhằm khắc phục, ngăn ngừa các thiếu sót trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế; hướng mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh theo đúng pháp luật của Nhà nước.

Trong khi xét xử hoặc thanh tra, trọng tài viên phải thuân thủ nghiêm túc các quy định của Nhà nước về nghiệp vụ xét xử, về nghiệp vụ thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.

Các quyết định của trọng tài viên đều có hiệu lực thi hành đối với các đương sự và các cơ quan, tổ chức có liên quan; nếu không đồng ý với quyết định của trọng tài viên, các đương sự có quyền kháng cáo, nhưng trong khi chờ đợi giải quyết, vẫn phải chấp hành quyết định đó.

b. Tiêu chuẩn của trọng tài viên:

Trọng tài viên thuộc Trọng tài kinh tế Nhà nước và Trọng tài kinh tế bộ, tổng cục phải là cán bộ cấp vụ hoặc tương đương. Trọng tài viên thuộc trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, và đặc khu trực thuộc Trung ương phải là cán bộ cấp sở, ty hoặc tương đương.

Trọng tài viên phải là người trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất chính trị tốt, liên khiết, công minh, có kiến thức pháp lý và kiến thức quản lý kinh tế cần thiế, hiểu biết về nghiệp vụ Trọng tài kinh tế và có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

c. Số lượng trọng tài viên:

Số lượng trọng tài viên được quy định như sau:

Ở Trọng tài kinh tế Nhà nước có từ 7 đến 9 trọng tài viên;

Ở Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục có từ 3 đến 5 trọng tài viên;

Ở Trọng tài kinh tế Tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương có từ 3 đến 5 trọng tài viên;

d. Thủ tục bổ nhiệm và bãi miến trọng tài viên:

Trọng tài viên chính thức thuộc Trọng tài kinh tế Nhà nước do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm và bãi miễn. Trọng tài viên dự bị thuộc Trọng tài kinh tế Nhà nước do chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước bổ nhiệm và bãi miễn.

Trọng tài viên thuộc Trọng tài kinh tế Bộ, Tổng cục do Bộ trưởng, Tổng cục trưởng bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thoả thuận với chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Trọng tài viên thuộc Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương do chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương bổ nhiệm và bãi miễn sau khi thoả thuận với chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước.

Trọng tài viên có thể vị bãi miễn trong trường hợp không đảm đương được nhiệm vụ được giao, vi phạm nghiêm trọng những quy định ở điểm b, Điều 4 của nghị định này hoặc là vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Nhà nước.

Điều 5: Bộ máy làm việc của các cơ quan Trọng tài kinh tế bộ, tổng cục, tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương do chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn sau khi thảo thuận với Ban tổ chức của Chính phủ.

Điều 6: Sửa đổi Điều 1 và 2 trong quyết định số 157-CP ngày 11/8/1975 của Hội đồng Chính phủ về tổ chức bộ máy của Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước (nay gọi là Trọng tài kinh tế Nhà nước) như sau:

Đổi vụ xét xử thành vụ pháp chế.

Vụ pháp chế có nhiệm vụ giúp chủ trịch Trọng tài kinh tế Nhà nước:

- Nghiên cứu xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế, về Trọng tài kinh tế; hướng dẫn, giải thích việc thi hành các văn bản ấy;

- Sưu tầm, hệ thống hoá và cung ứng các văn bản pháp luật về hợp đồng kinh tế, về Trọng tài kinh tế, về quản lý kinh tế theo nhu cầu công tác của các cơ quan trọng tài kinh tế;

- Giám sát tính đúng đắn của các kết luận trong biên bản thanh tra, biên bản xét xử và các quyết định xét xử của các cơ quan Trọng tài kinh tế.

Điều 7: Nghị định này được thi hành kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bị bãi bỏ.

Điều 8: Đồng chí chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn và giải thích việc thi hành nghị định này.

Điều 9: Các đồng chí Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Chủ tịch Trọng tài kinh tế Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.

Phạm Văn Đồng

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 24-HĐBT năm 1981 sửa đổi tổ chức trọng tài Nhà nước về kinh tế do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 24-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 10/08/1981
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 30/09/1981
Số công báo: Số 4
Ngày hiệu lực: 10/08/1981
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thương mại
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 24-HĐBT năm 1981 sửa đổi tổ chức tr...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký