Nghị định 257-TTg được ban hành năm 1957 do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký ban hành, nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Luật số 101-SL/L003 ngày 20 tháng 05 năm 1957 về quyền tự do hội họp. Văn bản này thiết lập các quy tắc cụ thể về việc quản lý hành chính đối với hoạt động hội họp, phân định rõ các trường hợp hội họp không phải xin phép nhưng phải báo trước và các trường hợp bắt buộc phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân thực hiện quyền tự do hội họp trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xác định rõ trách nhiệm của người tổ chức và thẩm quyền quản lý, giám sát của Ủy ban Hành chính các cấp cùng các Bộ ngành liên quan.
Quy định về các cuộc hội họp không phải xin phép nhưng phải báo trước
Để bảo đảm việc giữ gìn trật tự và an ninh chung, một số cuộc hội họp tuy không phải xin phép nhưng người tổ chức bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ báo trước cho Ủy ban Hành chính nơi diễn ra cuộc họp (Ủy ban Hành chính khu phố, thị xã, thị trấn hoặc xã) trong các trường hợp sau:
- Cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa những người thân thuộc, bạn bè với nhau (ngoại trừ các trường hợp đám cưới, đám tang hoặc giỗ tết) có số lượng người tham dự trên 20 người.
- Cuộc hội họp của một hội đã được thành lập hợp pháp nhưng hội này không nằm trong Mặt trận dân tộc thống nhất, có số lượng người tham dự trên 20 người.
- Các cuộc hội họp được tổ chức tại những địa điểm công cộng do Ủy ban Hành chính thành phố hoặc tỉnh đã ấn định cụ thể từ trước.
Thủ tục và nội dung báo trước được quy định như sau:
- Thời hạn báo trước: Chậm nhất là 24 giờ trước khi cuộc hội họp bắt đầu.
- Hình thức báo: Có thể thực hiện bằng văn bản (giấy tờ) hoặc báo miệng trực tiếp.
- Nội dung thông tin phải cung cấp: Họ tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ của người hoặc tổ chức đứng ra tổ chức; mục đích, địa điểm, ngày, giờ và thời lượng dự kiến của cuộc họp; ước lượng số lượng người sẽ tham gia.
Thủ tục xin phép đối với các cuộc hội họp khác
Ngoại trừ các cuộc hội họp thuộc diện miễn xin phép nêu trên, tất cả các cuộc hội họp khác đều phải thực hiện thủ tục xin phép trước khi tổ chức theo quy trình nghiêm ngặt:
- Thẩm quyền tiếp nhận và cấp phép: Ủy ban Hành chính nơi tổ chức hội họp (khu phố, thị xã, thị trấn hoặc xã). Trong trường hợp cuộc họp có sự tham gia của nhiều người từ các khu phố, thị xã, thị trấn hoặc xã khác kéo đến, người tổ chức phải xin phép Ủy ban Hành chính cấp trên trực tiếp tùy theo phạm vi tập hợp người tham dự.
- Thời hạn nộp đơn xin phép: Đơn xin phép phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền chậm nhất là 03 ngày tròn trước giờ định họp đối với địa bàn thành phố và thị xã; và chậm nhất là 05 ngày tròn đối với địa bàn nông thôn.
- Nội dung đơn xin phép: Phải ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ của người tổ chức; mục đích và chương trình chi tiết của cuộc họp; địa điểm, ngày, giờ, thời lượng cuộc họp và ước lượng số người tham dự.
- Yêu cầu về người đứng đơn: Trường hợp người xin phép không phải là người cư trú tại địa phương nơi diễn ra cuộc họp thì bắt buộc phải có một người cư trú tại địa phương đó cùng đứng tên và ký vào đơn xin phép.
- Quy trình giải quyết: Khi nhận đơn, Ủy ban Hành chính có trách nhiệm cấp ngay cho người nộp đơn một giấy biên nhận có ghi rõ ngày, giờ nhận đơn. Người tổ chức chỉ được phép tiến hành triệu tập người tham gia sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép chính thức.
Thẩm quyền quản lý, giám sát và xử lý vi phạm
Nghị định phân định rõ quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc giám sát và xử lý các hành vi vi phạm quy định về hội họp:
- Các cơ quan hành chính có thẩm quyền tiếp nhận thông báo hoặc đơn xin phép có quyền ra quyết định cấm hoặc giải tán các cuộc hội họp vi phạm các điều khoản an ninh trật tự theo quy định của pháp luật. Đồng thời, có quyền cảnh cáo hoặc yêu cầu cơ quan tòa án truy tố những người có hành vi phạm pháp.
- Trong tình thế khẩn cấp, Ủy ban Hành chính liên khu, khu, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng và các tỉnh trực thuộc Chính phủ trung ương có quyền tạm thời hạn chế các cuộc hội họp tại địa phương mình trong thời gian tối đa không quá 05 ngày, đồng thời phải lập tức báo cáo lên Bộ Nội vụ.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả các thể lệ, quy định trước đây trái với nội dung của Nghị định này đều bị bãi bỏ. Các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành và hướng dẫn chi tiết các nội dung của Nghị định này.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 257-TTg | Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 1957 |
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH LUẬT SỐ 101-SL/L003 NGÀY 20-05-1957 VỀ QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật số 101-SL/L003 ngày 20 tháng 05 năm 1957 quy định quyền tự do hội họp;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. – Nghị định này quy định chi tiết thi hành Luật số 101-SL/L003 ngày 20 tháng 05 năm 1957 về quyền tự do hội hợp.
Điều 2. – Những cuộc hội họp nói ở điều 2 của luật không phải xin phép, nhưng để đảm bảo việc giữ gìn trật tự an ninh chung, người tổ chức phải báo với Ủy ban Hành chính nơi hội họp (Ủy ban Hành chính khu phố, thị xã, thị trấn, hoặc xã trong những trường hợp sau đây:
1) Cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa thân thuộc bè bạn, không phải là cưới hỏi, ma chay hoặc giỗ tết mà có trên 20 người tham dự;
2) Cuộc hội họp là của một hội hợp pháp không ở trong Mặt trận dân tộc thống nhất, mà có trên 20 người tham dự:
3) Cuộc hội hợp tổ chức ở những nơi công cộng mà Ủy ban Hành chính thành phố hoặc tỉnh đã ấn định.
Khi báo việc tổ chức cuộc họp thì phải cho biết rõ:
- Tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ của người, tổ chức,
- Mục đích, nơi, ngày, giờ và thời gian hội hợp.
- Ước lượng số người tham dự
Điều 4.- Ngoài các cuộc hội họp nói trong điều 2 của Luật số 101-SL/l003 ngày 20 tháng 05 năm 1957, các cuộc hội họp khác đều phải xin phép trước theo thể thức quy định trong các điều 5 và 6 dưới đây.
Trong trường hợp tập hợp nhiều người ở các khu phố, thị xã, thị trấn, hoặc xã khác đến tham gia cuộc hội họp, thì phải xin phép Ủy ban Hành chính cấp trên tùy theo phạm vi tập hợp người đến hội hợp.
Trong đơn xin phép hội họp phải ghi rõ:
- Tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ của người tổ chức,
- Mục đích, chương trình cuộc họp,
- Nơi, ngày, giờ và thời gian hội họp,
- Ước lượng số người tham dự.
Trường hợp người xin phép không phải là người ở địa phương nơi hội hợp thì phải có một người ở địa phương ấy cùng đứng đơn xin phép.
Khi nhận đơn, Ủy ban Hành chính cấp ngay cho người nộp đơn một giấy biên nhận có ghi rõ ngày giờ nhận được.
Người xin phép tổ chức hội họp phải đợi có giấy phép rồi mới được triệu tập.
Điều 7.- Các cơ quan có thẩm quyền nhận việc báo trước hoặc đơn xin phép kể trong các điều 2 và 5 trên đây, có quyền cấm hoặc giải tán các cuộc hội hợp trong các trường hợp nói ở điều 5 và 7 của luật và cảnh cáo hoặc yêu cầu tòa án truy tố những người phạm pháp.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |