Nghị định 29-CP được ban hành năm 1993 bởi Chính phủ quy định về những biện pháp khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thu hút nguồn lực kinh tế từ kiều bào, tạo điều kiện thuận lợi và đưa ra các chính sách ưu đãi đặc biệt cho người Việt Nam ở nước ngoài khi tiến hành hoạt động đầu tư, kinh doanh tại quê hương.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các đối tượng và phạm vi cụ thể sau:
- Đối tượng áp dụng: Bao gồm mọi công dân có quốc tịch Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài (gọi chung là người Việt Nam ở nước ngoài). Đồng thời, các cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế ở nước ngoài được thành lập bằng nguồn vốn của người Việt Nam cũng thuộc đối tượng được hưởng các ưu đãi theo quy định này.
- Phạm vi ưu đãi: Quy định các điều kiện ưu đãi đặc thù dành riêng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư về nước, bên ngoài những chính sách ưu đãi chung đã được quy định trong các văn bản pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Bảo hộ pháp lý: Người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực và hình thức theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu vốn đầu tư, tài sản hợp pháp, quyền chuyển giao, thừa kế tài sản, vốn và lợi nhuận cho công dân Việt Nam, cùng các quyền lợi hợp pháp khác theo pháp luật Việt Nam.
Các chính sách ưu đãi và quy định cốt lõi
1. Quyền chung vốn và hợp tác đầu tư
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép chung vốn với các doanh nghiệp trong nước để thành lập "Bên Việt Nam", từ đó tiến hành hợp tác đầu tư với một hoặc nhiều bên nước ngoài khác.
2. Ưu đãi về thuế suất và chuyển lợi nhuận
- Giảm thuế lợi tức: Nhà đầu tư là người Việt Nam ở nước ngoài được giảm 20% số thuế lợi tức phải nộp theo quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Nghị định số 18-CP ngày 16-4-1993 của Chính phủ. Tuy nhiên, ưu đãi này không áp dụng đối với các trường hợp đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi 10% lợi nhuận.
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: Khi thực hiện chuyển lợi nhuận hợp pháp ra nước ngoài, nhà đầu tư chỉ phải nộp thuế suất ở mức 5% trên tổng số lợi nhuận chuyển đi.
3. Quyền ủy quyền quản trị doanh nghiệp
- Nhà đầu tư có quyền ủy quyền cho người Việt Nam ở trong nước hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài đại diện cho mình tham gia vào Hội đồng Quản trị của doanh nghiệp.
4. Hỗ trợ giao dịch ngoại tệ
- Các xí nghiệp có vốn đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng được phép mua, bán ngoại tệ tại trung tâm giao dịch ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước nhằm bảo đảm nhu cầu ngoại tệ hợp lý phục vụ cho hoạt động sản xuất của xí nghiệp.
5. Chính sách xuất nhập cảnh và thị thực
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước để chuẩn bị cho việc đầu tư được cấp thị thực nhập cảnh, xuất cảnh có giá trị nhiều lần với thời hạn từ 3 tháng đến 6 tháng, và có thể được gia hạn từng 6 tháng một.
- Giai đoạn thực hiện đầu tư: Người vào Việt Nam để triển khai giấy phép đầu tư hoặc kinh doanh được cấp thị thực nhiều lần với thời hạn 1 năm, và có thể kéo dài hơn tùy theo từng trường hợp cụ thể.
6. Thành lập văn phòng đại diện
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được giảm nhẹ một số điều kiện so với quy định hiện hành của Chính phủ khi thực hiện thủ tục xét duyệt đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam nhằm xúc tiến các hoạt động đầu tư và kinh doanh.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Trách nhiệm triển khai và hướng dẫn thực hiện được phân công cụ thể như sau:
- Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, Trưởng ban Ban Việt kiều trung ương, cùng Bộ trưởng các Bộ: Thương mại, Nội vụ, Ngoại giao có trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành các điều khoản của Nghị định.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 29-CP | Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 1993 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29 tháng 12 năm 1987; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 23 tháng 12 năm 1992;
Để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước, góp phần xây dựng đất nước;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư và Trưởng ban Ban Việt kiều Trung ương,
NGHỊ ĐỊNH:
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện giấy phép đầu tư hoặc kinh doanh được cấp thị thực nhập cảnh, xuất cảnh có giá trị nhiều lần trong thời hạn 1 năm và có thể dài hơn tuỳ từng trường hợp cụ thể.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987
- 2 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 1990
- 3 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 4 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 1992
- 5 Nghị định 18-CP năm 1993 Hướng dẫn Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- 6 Thông tư 497-TTLB năm 1994 hướng dẫn Nghị định 29-CP về những biện pháp khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước do Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư và Ban việt kiều Trung ương ban hành
- 7 Quyết định 767/1997/QĐ-TTg năm 1997 về một số chủ trương chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài do Thủ tướng chính phủ ban hành