Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Năm 1958, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 307-TTg về việc ban hành điều lệ quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc xây dựng quân đội chính quy, thống nhất về trang phục và hệ thống cấp bậc, biểu tượng trong toàn quân.

Điều lệ này áp dụng đối với toàn thể sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và học sinh đang học tập tại các trường quân sự thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

Quy định chung về quân hiệu và phân biệt quân chủng

Quân hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam được thiết kế hình tròn có đường kính 32 ly. Ở giữa quân hiệu là ngôi sao vàng năm cánh theo hình sao quốc kỳ, xung quanh được bao bọc bởi hai bông lúa. Phía dưới hai bông lúa có hình nửa bánh xe màu vàng và bên ngoài cùng là vành màu vàng. Để phân biệt các quân chủng, màu sắc nền của quân hiệu được quy định cụ thể:

  • Lục quân: Ngôi sao màu vàng đặt trên nền màu đỏ tươi.
  • Thủy quân: Ngôi sao màu vàng kết hợp với hình mỏ neo màu đỏ đặt trên nền màu xanh nước biển.
  • Không quân: Ngôi sao màu vàng kết hợp với hai cánh chim màu trắng đặt trên nền màu xanh da trời.

Để phân biệt các quân chủng trên trang phục thường dùng, màu sắc của nền phù hiệu và màu sắc của đường viền cấp hiệu được ấn định như sau: Lục quân sử dụng màu đỏ tươi; Thủy quân sử dụng màu tím than; Không quân sử dụng màu xanh da trời.

Cấp hiệu và phù hiệu của sĩ quan

Hệ thống cấp hiệu và phù hiệu dành cho sĩ quan được quy định chi tiết nhằm thể hiện rõ thứ bậc và binh chủng chuyên môn:

  • Cấp hiệu sĩ quan: Được đeo ở vai áo, nền màu đồng tươi và đính sao để thể hiện cấp bậc. Cấp Thiếu (Thiếu úy, Thiếu tá, Thiếu tướng) có một sao; cấp Trung (Trung úy, Trung tá, Trung tướng) có hai sao; cấp Thượng (Thượng úy, Thượng tá, Thượng tướng) có ba sao; cấp Đại (Đại úy, Đại tá, Đại tướng) có bốn sao.
  • Đặc điểm cấp hiệu theo từng cấp bậc:
    • Cấp Tướng: Sao màu vàng, cúc hình quốc huy màu vàng, nền cấp hiệu dệt nổi kiểu chữ nhân và ô vuông.
    • Cấp Tá: Sao màu bạc, cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa, nền dệt nổi lông ngang và có hai vạch màu bạc đặt ngang.
    • Cấp Úy: Thiết kế tương tự cấp Tá nhưng chỉ có một vạch màu bạc đặt ngang.
    • Chuẩn úy: Thiết kế giống cấp Úy nhưng không có sao trên nền cấp hiệu.
  • Phù hiệu sĩ quan: Được đeo ở ve cổ áo nhằm phân biệt các binh chủng và quân chủng. Phù hiệu của cấp Tướng có viền màu vàng, trong khi phù hiệu của cấp Tá và cấp Úy không có đường viền.
  • Hình tượng trưng trên phù hiệu: Sĩ quan chỉ huy, chính trị, hậu cần và hành chính thuộc Thủy quân có hình mỏ neo màu bạc; thuộc Không quân có hình hai cánh chim màu bạc; thuộc Bộ binh không có hình tượng trưng. Đối với các binh chủng chuyên môn và kỹ thuật, phù hiệu có các hình tượng trưng riêng biệt:
    • Xe tăng, xe thiết giáp: Hình xe tăng.
    • Công binh: Hình nửa bánh xe và xẻng cuốc.
    • Thông tin: Hình luồng điện.
    • Hóa học: Hình bình hóa học.
    • Pháo binh: Hình hai khẩu súng thần công đặt chéo.
    • Quân y và Thú y: Hình hồng thập tự.
    • Quân nhạc: Hình kèn và sáo.
    • Quân pháp: Hình mộc và hai thanh kiếm đặt chéo.
    • Quân nhu: Hình bó lúa và tấm vải.
    • Quân khí: Hình bánh xe và hai khẩu súng trường đặt chéo.
    • Xe hơi: Hình tay lái và nhíp xe.
    • Kỵ binh: Hình móng ngựa có thanh kiếm và khẩu súng trường đặt chéo.
    • Văn công: Hình dấu hiệu âm nhạc và đàn nguyệt.
    • Thể công: Hình cung tên.

Cấp hiệu và phù hiệu của hạ sĩ quan và binh sĩ

Quy định về trang phục và biểu trưng của hạ sĩ quan, binh sĩ được phân chia rõ ràng giữa các lực lượng:

  • Cấp hiệu hạ sĩ quan: Đeo ở vai áo, sử dụng cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa và có các vạch ngang để phân biệt cấp bậc. Hạ sĩ có một vạch ngang; Trung sĩ có hai vạch ngang; Thượng sĩ có ba vạch ngang. Vạch ngang của hạ sĩ quan Lục quân có màu đỏ tươi, của Không quân và Thủy quân có màu vàng. Riêng nền cấp hiệu của hạ sĩ quan Lục quân có màu xám nhạt.
  • Phù hiệu kết hợp cấp hiệu của hạ sĩ quan: Đeo ở ve cổ áo, có một vạch màu vàng và đính sao màu bạc để phân biệt cấp bậc (Hạ sĩ: một sao; Trung sĩ: hai sao; Thượng sĩ: ba sao). Nếu thuộc các binh chủng chuyên môn, kỹ thuật thì có thêm hình tượng trưng tương ứng.
  • Phù hiệu kết hợp cấp hiệu của binh sĩ: Đeo ở ve cổ áo, sử dụng sao màu bạc để phân biệt cấp bậc (Binh nhì: một sao; Binh nhất: hai sao). Các binh sĩ thuộc binh chủng chuyên môn, kỹ thuật cũng có thêm hình tượng trưng binh chủng trên phù hiệu.
  • Cấp hiệu đeo vai của binh sĩ Thủy quân: Khi mặc áo kiểu cổ bẻ xuống lưng, binh sĩ Thủy quân đeo cấp hiệu ở vai với nền màu tím than. Binh nhì có một mỏ neo màu bạc; Binh nhất có một mỏ neo màu bạc và hai vạch màu vàng (kích thước nhỏ hơn vạch của hạ sĩ quan).

Cấp hiệu và phù hiệu của học sinh các trường quân sự

Học sinh đang theo học tại các trường quân sự trong quân đội có hệ thống nhận diện riêng:

  • Cấp hiệu: Đeo ở vai áo, có đường viền màu vàng bao quanh và đính một cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa. Đối với học sinh trường Thủy quân, khi mặc áo kiểu cổ bẻ xuống lưng thì đeo cấp hiệu viền màu vàng và đính thêm mỏ neo màu bạc.
  • Phù hiệu: Đeo ở ve cổ áo, đặc trưng bởi một vạch màu vàng chạy dọc.

Quy định về lễ phục của cấp Tướng và cấp Tá

Lễ phục dành cho sĩ quan cấp cao được thiết kế trang trọng, thể hiện uy nghiêm của quân đội:

  • Lễ phục cấp Tướng:
    • Mũ lưỡi trai: Có viền màu đỏ, quai tết màu vàng và hai cành tùng màu vàng bao quanh quân hiệu.
    • Áo: Thiết kế gài chéo hai hàng cúc. Cổ áo và bác tay đều viền đỏ có hai đường chỉ màu vàng, phía dưới bác tay có thêm một cành tùng màu vàng. Ve áo đính một cành tùng và một sao màu vàng. Cúc áo màu vàng có hình sao giữa hai bông lúa.
    • Quần: Có nẹp màu đỏ dệt kiểu chữ nhân, ở giữa có dọc màu đồng tươi.
    • Các phụ kiện khác: Cà vạt màu đen vào mùa hạ và màu xám nhạt vào mùa đông; sơ mi và găng tay màu trắng; giày da đen ngắn cổ.
  • Lễ phục cấp Tá: Được thiết kế tương tự như lễ phục của cấp Tướng nhưng có một số điểm giản lược để phân biệt: Mũ lưỡi trai không có cành tùng; ve áo không đính sao và bác tay không có cành tùng; nẹp và dọc quần có kích thước hẹp hơn so với cấp Tướng.

Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện

Nghị định số 307-TTg năm 1958 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả các quy định trước đây trái với điều lệ ban hành kèm theo Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết và tổ chức thi hành nghị định này. Ngoài lễ phục của cấp Tướng và cấp Tá đã được quy định cụ thể, các trang bị khác của sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ sẽ do Bộ Quốc phòng nghiên cứu và quy định bổ sung.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

********

Số: 307-TTg

Hà Nội, ngày 20 tháng 06 năm 1958

NGHỊ ĐỊNH

BAN HÀNH ĐIỀU LỆ QUY ĐỊNH QUÂN HIỆU CẤP HIỆU, PHÙ HIỆU VÀ LỄ PHỤC CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua trong khóa họp thứ 8 ngày 29 tháng 4 năm 1958 và được ban hành do sắc lệnh số 109-SL-L11 ngày 31 tháng 5 năm 1958.
Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Chính phủ họp tháng 3 năm 1958 đã thông qua mẫu quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của quân đội nhân dân Việt Nam;

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. – Nay ban hành điều lệ quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam định theo nghị định này.

Điều 2. – Những quy định trái với điều lệ này đều bãi bỏ.

Điều 3. – Ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm thi hành nghị định.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

ĐIỀU LỆ

QUY ĐỊNH QUÂN HIỆU, CẤP HIỆU, PHÙ HIỆU VÀ LỄ PHỤC CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Điều 1. – Quân hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hình tròn đường kính 32 ly, giữa có sao vàng theo hình sao quốc kỳ xung quanh có hai bông lúa. Phía dưới 2 bông lúa có nửa bánh xe màu vàng. Bên ngoài 2 bông lúa có vành màu vàng.

Quân hiệu Lục quân: Sao màu vàng đặt trên nền đỏ tươi.

Quân hiệu Thủy quân: Sao màu vàng và mỏ neo đỏ đặt trên nền xanh nước biển

Quân hiện Không quân: Sao màu vàng và hai cánh chim trắng đặt trên nền xanh da trời.

Điều 2. – Để phân biệt các quân chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, màu sắc của nền phù hiệu và màu sắc của đường viền cấp hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ ấn định như sau:

Lục quân : màu đỏ tươi

Thủy quân: màu tím than

Không quân : màu xanh da trời

Điều 3. – Cấp hiệu và phù hiệu của sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam ấn định như sau:

1) Cấp hiệu sĩ quan:

Cấp hiệu sĩ quan thuộc ba quân chủng đeo ở vai áo, nền màu đồng tương và có sao:

- Thiếu úy, Thiếu tá, Thiếu tướng: một sao

- Trung úy, Trung tá, Trung tướng: hai sao

- Thượng úy, Thượng tá, Thượng tướng………: ba sao

- Đại úy, Đại tá, Đại tướng……..: bốn sao

Cấp hiệu của cấp Tướng, sao màu vàng, cúc hình quốc huy màu vàng, nền dệt nổi kiểm chữ nhân và ô vuông.

Cấp hiệu của cấp Tá: sao màu bạc cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa, hai vạch mầu bạc đặt ngang, nền dệt nổi lông ngang.

Cấp hiệu của cấp Úy: như của cấp Tá, nhưng chỉ có một vạch mầu bạc đặt ngang.

Cấp hiệu của Chuẩn úy: giống như của cấp Úy nhưng không có sao.

2) Phù hiệu sĩ quan:

Phù hiệu sĩ quan nhằm phân biệt các binh chủng và quân chủng, đeo ở ve cổ áo.

Phù hiệu cấp Tướng viền màu vàng, phù hiệu cấp Tá và cấp Ủy không viền

Phù hiệu sĩ quan chỉ huy sĩ, quan chính trị, sĩ quan hậu cần, sĩ quan hành chính thuộc Thủy quân có hình mỏ neo màu bạc, thuộc Không quân có hình hai cánh chim màu bạc, thuộc bộ binh không có hình tượng trưng.

Phù hiệu sĩ quan các binh chủng chuyên môn, kỹ thuật thuộc ba quân chủng có hình tượng trưng binh chủng sau đây:

- Xe tăng, xe thiết giáp: hình xe tăng

- Công binh: hình nửa bánh xe và xẻng cuốc

- Thông tin: hình luồng điện

- Hóa học : hình bình hóa học

- Pháo binh: hình hai khẩu súng thần công đặt chéo

- Quân y và thú ý: hình hồng thập tự

- Quân nhạc : hình kèn và sáo

- Quân pháp : hình mộc và hai thanh kiếm đặt chéo

- Quân nhu : hình bó lúa và tấm vải

- Quân khi : hình bánh xe và hai khẩu súng trường đặt chéo

- Xe hơi : hình tay lái và dịp xe

- Kỵ binh : hình móng ngựa có thanh kiếm và khẩu súng trường đặt chéo

- Văn công: hình dấu hiệu âm nhạc và đàn nguyệt

- Thể công : hình cung tên

Điều 4. – Cấp hiệu và phù hiệu của hạ sĩ quan và binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam ấn định như sau:

1) Cấp hiệu sĩ quan:

Cấp hiệu hạ sĩ quan thuộc ba quân chủng đeo ở vai áo, có vạch ngang, cúc mầu bạc có hình sao giữa hai bông lúa:

Hạ sĩ : một vạch ngang

Trung sĩ: hai vạch ngang

Thượng sĩ : ba vạch ngang

Vạch ngang cấp hiệu của hạ sĩ quan Lục quân mà đỏ tươi, Không quân và Thủy quân màu vàng.

Cấp hiệu hạ sĩ quan Lục quân nền màu xám nhạt.

2) Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của hạ sĩ quan:

Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của hạ sĩ quan thuộc ba quân chủng đeo ở ve cổ áo, có một vạch màu vàng và có sao màu bạc.

Hạ sĩ: một sao

Trung sĩ : hai sao

Thượng sĩ: ba sao

Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của hạ sĩ quan thuộc các binh chủng chuyên môn, kỹ thuật có thêm hình tượng trưng binh chủng như quy định ở điều 3.

3) Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của binh sĩ:

Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của binh sĩ thuộc ba quân chủng đeo ở ve cổ áo có sao màu bạc.

Bình nhì:một sao

Binh nhất: hai sao

Phù hiệu có kết hợp cấp hiệu của binh sĩ các binh chủng chuyên môn, kỹ thuật có thêm hình tượng binh chủng như quy định ở điều 3.

4) Cấp hiệu đeo vai của binh sĩ Thủy quân:

Binh sĩ Thủy quân khi mặc áo kiểu cổ bẻ xuống lưng thì có cấp hiệu đeo ở vai

Cấp hiệu đeo vai của binh sĩ Thủy quân nền tím than:

Binh nhì có một mỏ neo màu bạc

Binh nhất có một mỏ neo màu bạc và hai vạch màu vàng (nhỏ hơn vạch của hạ sĩ quan).

Điều 5. – Cấp hiệu, phù hiệu của học sinh các trường quân sự ấn định như sau:

1) Cấp hiệu:

Cấp hiệu học sinh ở các trường quân sự thuộc ba quân chủng đeo ở vai áo, viền màu vàng và có một cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa.

Học sinh trường Thủy quân khi mặc áo kiểu cổ bẻ xuống lưng thì đeo cấp hiệu viền màu vàng, có đính mỏ neo màu bạc.

2) Phù hiệu:

Phù hiệu học sinh các trường quân sự thuộc ba quân chủng đeo ở ve cổ áo có một vạch màu vàng.

Điều 6. – Lễ phục của cấp Tướng và cấp Tá ấn định như sau:

1) Cấp Tướng:

- Mũ lưỡi trai: viền đỏ, quai tết màu vàng, có hai cành tùng màu vàng bao quanh quân hiệu.

- Áo: gài chéo hai hàng cúc, cổ viền đỏ có hai đường chỉ màu vàng, bác tay viền đỏ có hai đường chỉ màu vàng, phía dưới có một cành tùng màu vàng. Ve áo có một cành tùng và một sao màu vàng. Cúc áo màu vàng có hình sao giữa hai bông lúa.

- Quần: có nẹp màu đỏ dệt kiểu chữ nhân giữa có dọc màu đồng tươi.

- Cờ ra vát: mùa hạ: màu đen, mùa đông: màu xám nhạt.

- Sơ mi và bít tất tay: màu trắng

- Giầy ngắn cổ, da đen.

2) Cấp Tá:

Lễ phục của cấp Tá như của cấp Tướng, nhưng:

- Mũ lưỡi trai: không có cành tùng

- Áo: ve áo không có sao, bác tay không có cành tùng

- Quần: nẹp và dọc hẹp hơn của cấp Trường

Điều 7. – Ngoài lễ phục của cấp Tướng và cấp Tá, những trang bị khác của sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sẽ do Bộ Quốc phòng quy định.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 307-TTg năm 1958 về điều lệ quy định quân hiệu cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 307-TTg
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 20/06/1958
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 09/07/1958
Số công báo: Số 25
Ngày hiệu lực: 05/07/1958
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 307-TTg năm 1958 về điều lệ quy địn...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký