Nghị định 32-CP được ban hành năm 1968 bởi Hội đồng Chính phủ nhằm thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số trên toàn miền Bắc. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc quản lý dân cư tập trung, đồng bộ, giúp tối ưu hóa công tác thống kê dân số phục vụ cho việc lập kế hoạch và quản lý của Nhà nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn miền Bắc nước ta kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1968. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương (Ủy ban hành chính các cấp), ngành Công an, ngành Nội vụ, Tổng cục Thống kê và toàn thể công dân trong việc thực hiện nghĩa vụ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu.
Thống nhất sổ đăng ký hộ tịch và hộ khẩu
- Hợp nhất việc đăng ký hộ tịch và đăng ký hộ khẩu vào một sổ duy nhất gọi là sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu.
- Sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu là cơ sở duy nhất để tất cả các ngành, các cấp khai thác số liệu, lập các biểu báo thống kê dân số sử dụng trong mọi mặt công tác kế hoạch và quản lý của Nhà nước.
- Mọi số liệu về dân số dựa vào những nguồn tài liệu khác ngoài cuốn sổ này đều không có giá trị pháp lý.
Phân công trách nhiệm quản lý và đăng ký ở địa phương
- Tại khu vực nông thôn: Việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận về hộ tịch, hộ khẩu, quản lý sổ và cung cấp số liệu dân số do Ủy ban hành chính xã, thị trấn đảm nhiệm. Ủy ban hành chính xã, thị trấn phải cử một cán bộ chuyên trách công tác này.
- Tại khu vực thành thị: Công tác này do Ủy ban hành chính thành phố, khu phố, thị xã đảm nhiệm với sự giúp đỡ của các cơ quan công an cùng cấp. Ủy ban hành chính có thể ủy nhiệm cho cơ quan công an phụ trách hẳn công tác đăng ký hộ khẩu.
Trách nhiệm chỉ đạo và phối hợp của các cơ quan Trung ương
- Bộ Công an chịu trách nhiệm chỉ đạo các Ủy ban hành chính về công tác hộ tịch và hộ khẩu.
- Bộ Công an phối hợp với Tổng cục Thống kê quy định mẫu sổ, chế độ bảo quản và sử dụng sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu; quy định các thể thức báo cáo thống kê dân số và hướng dẫn Ủy ban hành chính các cấp thi hành.
- Bộ Nội vụ có nhiệm vụ bàn giao toàn bộ công tác hộ tịch bao gồm tài liệu, sổ sách, biên chế cho Bộ Công an và hướng dẫn việc bàn giao công tác hộ tịch ở các địa phương.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp
Nghị định 32-CP chính thức có hiệu lực thi hành thống nhất trên miền Bắc kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1968. Kể từ ngày này, các quy định trước đây về lập sổ đăng ký hộ tịch thuộc nhiệm vụ chỉ đạo của Bộ Nội vụ (ghi trong bản điều lệ ban hành kèm theo Nghị định số 04-CP ngày 16-1-1961) và các quy định về lập sổ hộ khẩu (ghi trong điều lệ ban hành kèm theo Nghị định số 104-CP ngày 27-6-1964) chính thức hết hiệu lực thi hành. Các ông Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 32-CP | Hà Nội, ngày 29 tháng 02 năm 1968 |
VỀ VIỆC THỐNG NHẤT CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH, HỘ KHẨU VÀ THỐNG KÊ DÂN SỐ
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Để cải tiến hơn nữa công tác đăng ký hộtịch và hộ khẩu, giảm bớt những phiền phức không cần thiết cho nhân dân trong việc đăng ký hộ tịch, hộ khẩu;
Để đảm bảo cung cấp cho các cơ quan Nhà nước những số liệu chính xác về nhân khẩu, hộ khẩu trong việc lập và chỉ đạo thực hiện kế hoạch Nhà nước tổ chức thực hiện các chính sách và pháp luật của Nhà nước về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm tăng cường hiệu lực công tác quản lý của Nhà nước, đáp ứng kịp thời những nhu cầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước;
Theo đề nghị của các ông Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục Trưởng Tổng cục Thống kê;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội nghị thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 7 tháng 12 năm 1967,
NGHỊ ĐỊNH:
Những số liệu về dân số dựa vào những nguồn tài liệu khác sổ này đều không có giá trị.
- Ở nông thôn, do Ủy ban hành chính xã, thị trấn đảm nhiệm. Ủy ban hành chính xã, thị trấn phải cử một cán bộ chuyên trách công tác này.
- Ở thành thị, do Ủy ban hành chính thành phố, khu phố, thị xã đảm nhiệm với sự giúp đỡ của các cơ quan công an cùng cấp. Ủy ban hành chính có thể ủy nhiệm cho cơ quan công an phụ trách hẳn công tác đăng ký hộ khẩu.
Điều 4. Bộ Công an chỉ đạo các Ủy ban hành chính về công tác hộ tịch và hộ khẩu.
Bộ Công an và Tổng cục Thống kê quy định mẫu sổ; chế độ bảo quản và sử dụng sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, quy định các thể thức báo cáo thống kê dân số và hướng dẫn Ủy ban hành chính các cấp thi hành.
| TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Luật Cư trú 2006
- 2 Thông tư 05-NV năm 1961 hướng dẫn thi hành Điều lệ đăng ký hộ tịch mới do Bộ Nội vụ ban hành
- 3 Nghị định 219-HĐBT năm 1987 về việc chuyển giao công tác đăng ký hộ tịch từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp và Uỷ ban nhân dân các cấp do Hội đồng bộ trưởng ban hành
- 4 Nghị định 764-TTg năm 1956 Điều lệ đăng ký hộ tịch
- 5 Thông tư 01-TT/BNV-1976 hướng dẫn thi hành Quyết định 167-CP-1976 về việc tăng cường công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu do Bộ Nội vụ ban hành
- 1 Luật Cư trú 2006
- 2 Thông tư 05-NV năm 1961 hướng dẫn thi hành Điều lệ đăng ký hộ tịch mới do Bộ Nội vụ ban hành
- 3 Nghị định 219-HĐBT năm 1987 về việc chuyển giao công tác đăng ký hộ tịch từ Bộ Nội vụ sang Bộ Tư pháp và Uỷ ban nhân dân các cấp do Hội đồng bộ trưởng ban hành
- 4 Nghị định 764-TTg năm 1956 Điều lệ đăng ký hộ tịch
- 5 Thông tư 01-TT/BNV-1976 hướng dẫn thi hành Quyết định 167-CP-1976 về việc tăng cường công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu do Bộ Nội vụ ban hành