Nghị định 336-NĐ năm 1957 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành quy định về thể lệ tổ chức kỳ thi hết cấp 2 đối với hệ thống Trường phổ thông 10 năm, áp dụng chính thức từ niên học 1956-1957. Văn bản này thiết lập các quy tắc đồng bộ về điều kiện dự thi, phương thức tổ chức hội đồng thi, kỷ luật phòng thi, cấu trúc đề thi, thang điểm đánh giá và quy trình phê duyệt kết quả thi tốt nghiệp cấp 2 trên toàn quốc.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thể lệ này áp dụng đối với toàn bộ học sinh đang theo học lớp 7 tại các Trường phổ thông cấp 2 công lập và tư thục thuộc hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm đã hoàn thành chương trình học theo quy định.
1. Điều kiện đối với thí sinh dự thi
- Độ tuổi và thời gian học tập: Thí sinh phải đủ 14 tuổi tính đến ngày 31 tháng 12 của năm thi. Thí sinh phải là học sinh lớp 7 và đã hoàn thành chương trình cấp 2 phổ thông trong thời gian tối thiểu là 3 niên khóa. Đối với học sinh từ niên khóa 1955-1956 trở về trước không học lớp 5 và lớp 6 nhưng học các lớp tương đương của hệ thống cũ và có học lớp 7 từ niên học 1956-1957 vẫn đủ điều kiện dự thi.
- Trường hợp đặc biệt: Học sinh nghỉ học nhiều do ốm đau hoặc lý do khác dẫn đến không đủ điểm tổng kết sẽ do Hội đồng nhà trường xem xét và quyết định việc cho phép dự thi hay không.
- Thủ tục đăng ký: Học sinh không cần làm đơn xin dự thi nhưng phải nộp 1 bản sao giấy khai sinh nếu hồ sơ tại trường chưa có. Nhà trường chịu trách nhiệm lập danh sách học sinh đủ điều kiện dựa trên học bạ và giấy khai sinh. Danh sách này cùng học bạ và giấy khai sinh phải gửi đến Ty Giáo dục trước kỳ thi 20 ngày.
- Giấy tờ mang theo: Khi vào phòng thi, thí sinh bắt buộc phải mang theo thẻ học sinh có dán ảnh, ghi rõ ngày tháng năm sinh, nơi sinh, chữ ký của thí sinh và xác nhận của Hiệu trưởng (đối với trường tư thục phải có thị thực của Ủy ban Hành chính cấp huyện hoặc quận trở lên).
2. Tổ chức Hội đồng thi và địa điểm thi
- Địa điểm thi: Do Ty Giáo dục ấn định sau khi được Khu Giáo dục thông qua. Tại các địa phương có nhiều trường cấp 2, kỳ thi sẽ được chia thành nhiều khu vực thi để tránh tập trung quá đông học sinh. Học sinh trường tư thục sẽ thi chung với học sinh trường công lập gần nhất.
- Cơ cấu Hội đồng thi: Tùy theo số lượng thí sinh, mỗi khu vực thi có thể thành lập Hội đồng giám khảo kiêm giám thị hoặc chỉ lập Hội đồng giám thị coi thi viết riêng. Nếu chỉ có Hội đồng giám thị, việc chấm thi viết và thi vấn đáp sẽ tập trung tại một số Hội đồng giám khảo trong tỉnh.
- Thành phần nhân sự: Hội đồng giám thị gồm giáo viên của các trường có học sinh dự thi tại khu vực đó (mỗi phòng thi có ít nhất 2 giám thị). Hội đồng giám khảo gồm các giáo viên được điều động từ khu vực khác đến. Nhân sự của Hội đồng thi do Ủy ban Hành chính tỉnh hoặc thành phố ra nghị quyết bổ nhiệm theo đề nghị của Ty Giáo dục.
3. Kỷ luật phòng thi và xử lý vi phạm
- Quy định phòng thi: Thí sinh tuyệt đối không được thông đồng với nhau hoặc với người ngoài, không được mang tài liệu, sách vở, giấy tờ không được phép vào phòng thi. Vi phạm sẽ bị đuổi khỏi phòng thi ngay lập tức.
- Xử lý gian lận trong kỳ thi: Thí sinh bị bắt quả tang gian lậu hoặc có ý định gian lậu sẽ bị cảnh cáo, đuổi khỏi phòng thi hoặc có thể bị đuổi học tùy mức độ vi phạm. Quyết định đuổi học do Ty Giáo dục ban hành và báo cáo lên Khu Giáo dục.
- Xử lý gian lận sau kỳ thi: Nếu hành vi gian lận bị phát hiện sau khi kỳ thi kết thúc, thí sinh vẫn có thể bị kỷ luật đuổi học và thu hồi giấy chứng nhận trúng tuyển. Việc hủy bỏ giấy chứng nhận do Khu Giáo dục quyết định và báo cáo lên Nha Giáo dục phổ thông.
4. Nội dung, cấu trúc đề thi và phương thức chấm điểm
- Chương trình thi: Nội dung thi nằm trong chương trình cấp 2 phổ thông. Hằng năm, Nha Giáo dục phổ thông có thể giới hạn chương trình thi đối với một số môn cụ thể. Đề thi do Khu Giáo dục hoặc Ty Giáo dục tỉnh trực thuộc lựa chọn thống nhất cho toàn bộ các Hội đồng thi trong địa bàn.
- Các phần thi bắt buộc: Kỳ thi gồm hai phần chính là thi viết và thi vấn đáp.
- Bài thi viết: Tập làm văn (2 giờ), Toán (2 giờ), Lịch sử hoặc Địa lý (1 giờ), Vật lý - Hóa học (1 giờ 30 phút).
- Bài thi vấn đáp: Giảng văn, Toán, Địa lý hoặc Lịch sử, Sinh vật. Thời gian hỏi thi vấn đáp không quá 10 phút cho mỗi môn đối với mỗi thí sinh. Nếu bài thi viết chọn môn Lịch sử thì bài thi vấn đáp sẽ hỏi môn Địa lý và ngược lại.
- Thang điểm và điều kiện thi vấn đáp: Điểm số được tính theo thang điểm 5 bậc (từ 1 đến 5) và không nhân hệ số. Thí sinh bỏ thi bất kỳ môn nào sẽ bị coi là bỏ thi và bị loại. Thí sinh có điểm thi viết rơi vào trường hợp hỏng thi sẽ bị loại ngay và không được tham gia phần thi vấn đáp.
5. Tiêu chuẩn trúng tuyển và xét vớt
- Tổng số điểm đánh giá: Có tất cả 8 đầu điểm bao gồm 2 điểm Quốc văn, 2 điểm Toán, và 4 điểm cho các môn Lịch sử, Địa lý, Sinh vật, Vật lý - Hóa học.
- Điều kiện trúng tuyển thẳng: Thí sinh đạt toàn bộ các điểm từ 3 trở lên, hoặc có 7 điểm từ 3 trở lên và chỉ có duy nhất 1 điểm 2 ở bất kỳ môn nào.
- Trường hợp xét vớt (đưa ra Hội đồng xét duyệt): Áp dụng đối với thí sinh có 2 điểm 2 ở hai môn khác nhau (các môn khác đạt từ 3 trở lên) hoặc có 1 điểm 1 ở môn không phải Quốc văn hay Toán (các môn khác đạt từ 3 trở lên). Hội đồng thi quyết định cho trúng tuyển nếu đáp ứng một trong hai điều kiện:
- Trong những điểm thi về các môn khác có 2 điểm trội (điểm 4 hoặc 5), đồng thời học bạ đạt loại trung bình về cả học lực và đạo đức, không phạm kỷ luật.
- Học bạ đạt loại khá trở lên, đạo đức tốt, dù các điểm thi khác không có điểm trội (không có điểm 4 hoặc 5).
- Trường hợp hỏng thi (không được xét vớt): Thí sinh rơi vào một trong các trường hợp sau sẽ bị đánh trượt trực tiếp:
- Có từ 3 điểm 2 trở lên.
- Có 1 điểm 1 và 1 điểm 2.
- Có 1 điểm 1 ở môn Quốc văn hoặc môn Toán.
- Có 2 điểm 2 ở cùng môn Quốc văn hoặc cùng môn Toán.
6. Tiêu chuẩn xếp hạng trúng tuyển
- Hạng Xuất sắc: Tất cả các điểm thi đều đạt điểm 5.
- Hạng Ưu: Đạt 6 điểm 5 và 2 điểm 4 ở bất kỳ môn nào; hoặc đạt điểm 5 ở cả hai môn Quốc văn và Toán, các môn còn lại đạt điểm 4.
- Hạng Bình: Đạt 7 điểm từ 4 trở lên và 1 điểm 3 ở môn bất kỳ; hoặc đạt 6 điểm từ 4 trở lên và 2 điểm 3 ở các môn không phải Quốc văn hay Toán.
- Hạng Thứ: Các trường hợp trúng tuyển còn lại không thuộc ba hạng trên.
7. Quy trình báo cáo và phê duyệt kết quả
- Sau khi kết thúc kỳ thi, Chủ tịch Hội đồng thi lập biên bản có chữ ký của toàn bộ thành viên Hội đồng, kèm theo danh sách thí sinh dự thi vấn đáp, danh sách trúng tuyển và toàn bộ hồ sơ thi gửi về Ty Giáo dục.
- Ty Giáo dục tiến hành kiểm tra, rà soát lại toàn bộ công tác thi, lập báo cáo gửi Khu Giáo dục để xin phê duyệt kết quả. Kết quả kỳ thi chỉ chính thức có hiệu lực pháp lý sau khi được Khu Giáo dục duyệt y.
- Khu Giáo dục sau khi phê duyệt sẽ tổng hợp tình hình, kết quả thi của toàn khu vực để báo cáo lên Nha Giáo dục phổ thông kèm theo bộ đề thi đã sử dụng.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 336-NĐ năm 1957 có hiệu lực thi hành kể từ niên học 1956-1957. Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục và Giám đốc Nha Giáo dục Phổ thông chịu trách nhiệm thi hành các quy định tại văn bản này.
| BỘ GIÁO DỤC | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 336-NĐ | Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 1957 |
BAN HÀNH THỂ LỆ TỔ CHỨC THI HẾT CẤP 2 TRƯỜNG PHỔ THÔNG 10 NĂM
BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC
Chiếu Sắc lệnh số 119-SL ngày 9-7-1946 tổ chức Bộ Giáo dục;
Chiếu Nghị định số 596-NĐ ngày 30-8-1956 quy định Trường Phổ thông 10 năm, đặc biệt điều 22 của nghị định;
Theo đề nghị của ông Giám đốc Ngân hàng Nha Giáo dục Phổ thông;
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. – Nay ban hành thể lệ tổ chức thi hết cấp 2 Trường Phổ thông 10 năm kèm theo nghị định này.
Điều 2. – Thể lệ thi hết cấp 2 sẽ thi hành kể từ niên học 1956-1957.
| BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC |
Kỳ thi này không nhận thí sinh tự do.
Ở những tỉnh hay thành phố có nhiều Trường phổ thông cấp 2 có lớp 7, để tránh tập trung đông học sinh sẽ tổ chức thành nhiều khu vực thi, mỗi khu vực gồm một số trường ở gần nhau.
Học sinh trường tư (nếu có ở một địa phương sẽ thi chung với học sinh trường công gần nhất).
ĐIỀU KIỆN GHI TÊN VÀ HỒ SƠ XIN THI
Từ niên khóa 1955-1956 trở về trước, nếu học sinh không học lớp 5 và lớp 6 phổ thông nhưng đã học những lớp tương đương các trường học cũ và từ niên học 1956-57 có học lớp 7 phổ thông thì học sinh đó cũng đủ điều kiện dự thi.
Trong năm học lớp 7 phổ thông, nếu học sinh nào vì ốm đau hay vì lý do gì nghỉ nhiều, không đủ điểm tổng kết, thì Hội đồng nhà trường sẽ đưa ra xét để quyết định việc cho dự thi hay không.
Học sinh sẽ ký vào danh sách này ngay tại trường và khi vào phòng thi sẽ ký vào sổ báo danh.
Ở cuối danh sách, Hiệu trưởng có trách nhiệm kết toán và chứng nhận những học sinh ghi tên trong danh sách để đủ điều kiện dự thi kỳ thi hết cấp.
Danh sách, kèm theo giấy khai sinh và học bạ của học sinh từng trường sẽ gửi đến Ty Giáo dục (hoặc đến trường được Ty ủy nhiệm tổ chức thi) 20 ngày trước kỳ thi.
Trong trường hợp tại nơi thi chỉ đặt Hội đồng giám thị, việc chấm bài thi viết và tổ chức thi vấn đáp cho học sinh sẽ tập trung vào một số Hội đồng giám khảo trong tỉnh
Mỗi buồng thi cần có ít nhất 2 giám thị
Hội đồng giám khảo sẽ gồm những giáo viên điều động ở khu vực khác đến.
Trường hợp cả tỉnh chỉ có một Hội đồng giám khảo kiêm giám thị (tỉnh chỉ có một trường cấp 2), Ty sẽ đề cử một, hai cán bộ tham gia Hội đồng thi.
Điều 12. - Hội đồng giám khảo hay Hội đồng giám thị có quyền quyết định mọi công việc trong kỳ thi.
Việc đuổi ra khỏi trường sẽ do Ty Giáo dục quyết định và báo cáo lên Khu Giáo dục.
Việc hủy bỏ giấy chứng nhận trúng tuyển sẽ do khu Giáo dục quyết định và báo cáo lên Nha Giáo dục phổ thông.
BÀI THI VÀ ĐIỀU KIỆN TRÚNG TUYỂN
A. Bài thi viết:

1. - Tập làm văn : 2 giờ
2. – Toán : 2 giờ
3. - Sử hay địa : 1 giờ
4. – Lý hóa : 1g30
B. Bài thi vấn đáp: (đối với mỗi thí sinh mỗi bài không hỏi lâu quá 10phút)
1. Giảng văn 3. Địa hay sử
2. Toán 4. Sinh vật
Về môn sử, địa, nếu bài thi viết là sử thì lúc vào vấn đáp chỉ hỏi về địa, và ngược lại.
Điều 20. – Các bài thi viết và thi vấn đáp đều cho điểm theo thang điểm 5 bậc và không tính hệ số.
Thí sinh bỏ không thi một bài sẽ coi như bỏ dở kỳ thi và sẽ bị loại.
Điều kiện trúng tuyển quy định như sau:
1. – Tất cả các điểm đều “3” trở lên
2. – Có 7 điểm “3” trở lên và 1 điểm “2” về bất cứ môn nào.
Điều 22. – Có 2 trường hợp được đưa ra Hội đồng thi xét, sau kỳ thi vấn đáp:
1) Có 2 điểm “2” về 2 môn khác nhau (các điểm khác đều “3” trở lên);
2) Có 1 điểm “1” về một môn không phải Quốc văn hay Toán (các điểm khác đều “3” trở lên)
Sau khi xét kết quả thi về các môn khác và học bạ của thí sinh. Hội đồng thi có thể quyết định cho trúng tuyển trong 2 trường hợp sau:
1) Trong những điểm thi về các môn khác, có 2 điểm trội (điểm “4” hoặc “5”), học bạ trung bình, nghĩa là học lực vào loại trung bình, tư cách đạo đức trung bình, không phạm kỷ luật;
2) Học bạ tốt, nghĩa là học lực vào hạng khá (trên trung bình) tư cách đạo đức tốt, những điểm thi về các môn khác không có gì trội (không có điểm “4” hoặc “5”)
Trong việc xét với một thí sinh, toàn thể nhân viên Hội đồng giám khảo có quyền biểu quyết, Quyết định sẽ lấy theo đa số tương đối . Nếu số người biểu quyết ngang nhau, thì ý kiến của Chủ tịch Hội đồng giám khảo là ý kiến quyết định.
Nghị quyết của Hội đồng về việc xét với sẽ ghi rõ vào biên bản.
1) Có 3 điểm “2”
2) Có 1 điểm “1” và 1 điểm “2”
3) Có 1 điểm “1” về quốc văn hay toán
4) Có 2 điểm “2” về cùng môn quốc văn hay cùng môn toán.
Điều 24. – Tiêu chuẩn xếp hạng các thí sinh trúng tuyển quy định như sau:
1. Bình: - Có 7 điểm đều “4” trở lên và 1 điểm “3” về bất cứ môn nào
- Có 6 điểm đều “4” trở lên và 2 điểm “3” không phải về quốc văn hay toán
2. Ưu: - Có 6 điểm “5” và 2 điểm “4” về bất cứ môn nào
- Các điểm về quốc văn và toán đều “5” các điểm khác đều “4”
3. Xuất sắc: Các điểm đều “5”
4. Thứ: Những trường hợp trúng tuyển khác đều xếp vào hạng thứ.
Kết quả kỳ thi chỉ coi là chính thức sau khi được Khu Giáo dục duyệt y.
- 1 Nghị định 169-NĐ năm 1959 Quy định thể lệ tổ chức kỳ thi hết cấp 2 trường phổ thông áp dụng từ niên học 1958-1959 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành
- 2 Nghị định 596-NĐ năm 1956 về việc Ban hành quy chế trường phổ thông 10 năm do Bộ trưởng Bộ Giáo dục ban hành
- 3 Sắc lệnh số 119 về việc tổ chức Bộ Quốc gia giáo dục do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 4 Luật Giáo dục 1998