Nghị định số 4-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1988 nhằm ban hành và triển khai thực hiện Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu thống nhất trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Điều lệ này áp dụng thống nhất đối với mọi công dân Việt Nam trong việc đăng ký và quản lý hộ khẩu. Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân sinh sống tập thể trong doanh trại hoặc nhà ở tập thể của lực lượng vũ trang thì việc quản lý được thực hiện theo quy định riêng của Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ. Tuy nhiên, những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, cán bộ công nhân viên quốc phòng hàng ngày ngoài giờ làm việc về sinh sống cùng gia đình thì phải đăng ký hộ khẩu thường trú cùng hộ gia đình. Những người không thuộc lực lượng vũ trang nhưng sinh sống trong khu vực doanh trại, nhà tập thể của quân đội, công an vẫn phải thực hiện theo các quy định của Điều lệ này.
Quy định về khai nhân khẩu và lập sổ hộ khẩu
- Mọi công dân từ 15 tuổi trở lên có trách nhiệm tự khai bản khai nhân khẩu đầy đủ, chính xác theo mẫu hướng dẫn thống nhất của Bộ Nội vụ.
- Sổ hộ khẩu được lập theo các phương thức: tại thành phố, thị xã, thị trấn lập theo từng hộ; tại nông thôn lập theo xóm, ấp, bản; đối với nhà ở tập thể của cơ quan, tổ chức thì lập theo từng nhà ở hoặc phòng ở tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức, hội viên.
Các trường hợp phải báo cáo thay đổi hộ khẩu
Khi phát sinh các thay đổi về hộ khẩu, người thay đổi, chủ hộ hoặc người có trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà tập thể phải đến báo với cơ quan đăng ký hộ khẩu để xác nhận vào sổ hộ khẩu đối với các trường hợp:
- Chia một hộ thành nhiều hộ hoặc hợp nhiều hộ thành một hộ.
- Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh sau khi có quyết định cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
- Có trẻ em mới sinh hoặc có người chết.
- Có người được tuyển dụng vào lực lượng vũ trang, đi công tác, lao động, học tập dài hạn ở nước ngoài hoặc xuất cảnh ra nước ngoài.
- Có người tự ý bỏ đi nơi khác, mất tích, bị bắt đi tù, đi tập trung giáo dục cải tạo hoặc bắt buộc lao động tập trung.
Thủ tục chuyển nơi thường trú
- Trước khi chuyển đi nơi khác, người thay đổi hoặc chủ hộ phải đến cơ quan đăng ký hộ khẩu sở tại để làm thủ tục chuyển đi.
- Khi đến nơi ở mới, người chuyển đến hoặc chủ hộ phải báo với cơ quan đăng ký hộ khẩu sở tại để làm thủ tục chuyển đến trong thời hạn không quá 2 ngày (đối với thành phố, thị xã) hoặc không quá 5 ngày (đối với nông thôn).
Quy định về việc chuyển hộ khẩu đến nội thành, nội thị
Việc chuyển hộ khẩu đến nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã phải do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương nơi đến xét duyệt. Các trường hợp được phép chuyển đến bao gồm:
- Cán bộ, công nhân, nhân viên (gồm cả lực lượng quốc phòng, công an), học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề được điều động hoặc tuyển dụng vào biên chế theo quy chế.
- Cán bộ, công nhân, nhân viên công tác tại các tỉnh, thành phố giáp ranh thường xuyên về ở với vợ hoặc chồng là nhân khẩu thường trú tại thành phố, thị xã đó.
- Người đã có hộ khẩu thường trú tại nội thành, nội thị đi nghĩa vụ quân sự, công tác, lao động, học tập ở nơi khác (trong và ngoài nước) nay đã hoàn thành nhiệm vụ, nghỉ hưu, phục viên, xuất ngũ hoặc thôi việc.
- Người già yếu, hết tuổi lao động về sống nương tựa với vợ, chồng hoặc con là nhân khẩu thường trú.
- Người dưới 18 tuổi chưa tự lập được, người bị bệnh tật không có khả năng tự lập và không có người nuôi dưỡng về ở với bố, mẹ, ông bà hoặc anh, chị ruột là nhân khẩu thường trú.
- Người mới kết hôn đến sống cùng vợ hoặc chồng là nhân khẩu thường trú.
- Người từng có hộ khẩu thường trú tại nội thành, nội thị bị bắt buộc lao động tập trung, cải tạo, đi tù đã hết hạn và được cơ quan thẩm quyền cho về (không thuộc diện bị cấm cư trú).
- Các trường hợp ngoại lệ khác được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương xét duyệt cho phép.
Các trường hợp không được đăng ký thường trú tại nội thành, xã biên giới, hải đảo
Nghị định nghiêm cấm việc chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú tại nội thành các thành phố trực thuộc Trung ương, các xã biên giới và hải đảo đối với các đối tượng sau:
- Người đang bị quản chế.
- Người đang thực hiện cải tạo tại chỗ.
- Người đã có hành vi phạm pháp và đang chờ xét xử.
- Người đang trong thời hạn thi hành án phạt cấm cư trú của Tòa án nhân dân.
- Người đang thi hành quyết định cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quy định về đăng ký tạm trú và tạm vắng
Công tác quản lý tạm trú, tạm vắng đối với người từ 15 tuổi trở lên được quy định chặt chẽ:
- Về tạm trú: Người đến tạm trú ngoài phạm vi nội thành, nội thị và huyện nơi thường trú phải khai báo tạm trú. Thời hạn tạm trú tối đa là 6 tháng, nếu tiếp tục tạm trú phải khai báo lại. Việc khai báo được thực hiện thông qua người phụ trách nhà trọ/khách sạn, Ban bảo vệ nhà khách/nhà tập thể cơ quan, hoặc tổ trưởng nhân dân (đối với nhà dân và hộ gia đình).
- Về tạm vắng: Người đi vắng khỏi nội thành, nội thị và huyện nơi thường trú phải khai báo tạm vắng với tổ trưởng nhân dân hoặc Ban bảo vệ nhà tập thể. Thời hạn tạm vắng không quá 6 tháng; nếu vắng mặt quá 6 tháng không có lý do rõ ràng sẽ bị cơ quan đăng ký hộ khẩu xóa tên trong sổ hộ khẩu (sẽ xét đăng ký lại khi trở về). Người đi công tác, học tập, hội nghị, chữa bệnh cũng phải thực hiện khai báo tạm vắng.
Trách nhiệm quản lý, khen thưởng và xử lý vi phạm
- Trách nhiệm quản lý: Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu và ban hành các biểu mẫu thống nhất. Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương trực tiếp chỉ đạo thực hiện tại địa phương.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Nghiêm cấm giả mạo giấy tờ, kê khai gian dối để đăng ký hộ khẩu sai quy định. Không cơ quan, tổ chức nào được tự ý thay đổi hoặc làm trái Điều lệ. Bộ Nội vụ có quyền đình chỉ các quy định trái với Điều lệ này và kiến nghị Hội đồng Bộ trưởng bãi bỏ.
- Quyền khiếu nại, tố cáo: Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi đăng ký hộ khẩu không đúng quy định. Các cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm giải quyết theo quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
- Khen thưởng và xử lý vi phạm: Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc sẽ được khen thưởng. Ngược lại, người vi phạm quy định về đăng ký và quản lý hộ khẩu sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy tố trước pháp luật tùy theo mức độ sai phạm.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 4-HĐBT và Điều lệ kèm theo có hiệu lực thi hành thống nhất trong cả nước kể từ ngày ban hành. Các văn bản trước đây trái với Điều lệ này đều bị bãi bỏ.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4-HĐBT | Hà Nội, ngày 07 tháng 1 năm 1988 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 4-HĐBT NGÀY 7-1-1988 BAN HÀNH ĐIỀU LỆ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
NGHỊ ĐỊNH:
| Phạm Hùng (Đã ký) |
ĐIỀU LỆ
ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU
Mỗi hộ phải cử một người có trách nhiệm chính làm chủ hộ để thực hiện các quy định về đăng ký và quản lý hộ khẩu trong hộ của mình.
Các cơ quan và tổ chức phải cử người để đôn đốc những người ở trong nhà tập thể của mình chấp hành những quy định về đăng ký và quản lý hộ khẩu.
Những sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, cán bộ công nhân, nhân viên quốc phòng của quân đội nhân dân và của công an nhân dân hàng ngày ngoài giờ làm việc về ở với bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con cùng trong một thành phố, thị xã, thị trấn, một huyện thì đăng ký hộ khẩu thường trú cùng với hộ gia đình.
Những người không phải là quân đội, công an mà ở trong khu vực doanh trại, nhà ở tập thể của quân đội, của công an đều thực hiện theo những quy định trong Điều lệ này.
QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ KHẨU
- Chia một hộ thành nhiều hộ, hợp nhiều hộ thành một hộ.
- Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh sau khi có quyết định cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
- Có trẻ em mới sinh, hoặc có người chết.
- Có người được tuyển dụng vào lực lượng vũ trang, đi công tác, lao động, học tập dài hạn ở nước ngoài, xuất cảnh ra nước ngoài.
- Có người tự bỏ đi nơi khác, mất tích, bị bắt đi tù, đi tập trung giáo dục cải tạo, bắt buộc lao động tập trung.
Những trường hợp sau đây được chuyển đến đăng ký hộ khẩu thường trú ở nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã:
1. Cán bộ, công nhân, nhân viên bao gồm cả công nhân, nhân viên quốc phòng và công nhân của công an, học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề được cấp có thẩm quyền ra quyết định điều động, hoặc tuyển dụng vào biên chế của cơ quan, xí nghiệp theo quy chế về điều động, tuyển dụng.
2. Cán bộ, công nhân, nhân viên công tác ở các tỉnh, thành phố giáp ranh thường xuyên về ở với vợ hoặc chồng là nhân khẩu thường trú ở thành phố, thị xã.
3. Những người đã là nhân khẩu thường trú ở nội thành, nội thị đi nghĩa vụ quân sự, đi công tác, đi lao động, đi học tập ở nơi khác kể cả trong và ngoài nước, đã làm xong nhiệm vụ hoặc nghỉ hưu, phục viên, nghỉ mất sức, được xuất ngũ, thôi việc.
4. Những người già yếu, hết tuổi lao động đến ở với vợ hoặc chồng, con là nhân khẩu thường trú để nương tựa.
5. Những người dưới 18 tuổi chưa tự lập được, những người bị bệnh tật không có khả năng tự lập được không có người nuôi dưỡng về ở với bố, mẹ, ông bà hoặc anh, chị ruột là nhân khẩu thường trú.
6. Những người mới kết hôn đến ở với vợ hoặc chồng là nhân khẩu thường trú.
7. Những người đã là nhân khẩu thường trú ở nội thành, nội thị bị bắt buộc lao động tập trung, đi trường phổ thông công nông nghiệp, đi tập trung cải tạo, đi tù đã hết hạn mà không thuộc diện phải thi hành lệnh cấm cư trú được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy cho về.
8. Những trường hợp ngoại lệ khác được Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương xét duyệt cho phép đăng ký hộ khẩu vào nội thành, nội thị.
a) Những người đang bị quản chế.
b) Những người đang cải tạo tại chỗ.
c) Những người đã có hành động phạm pháp chờ xét xử.
d) Những người đang trong thời hạn thi hành án phạt của Toà án nhân dân về cấm cư trú.
e) Những người đang thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc.
- Tạm trú trong các nhà trọ, khách sạn thì người phụ trách các nhà trọ, khách sạn phải khai báo với cơ quan đăng ký hộ khẩu sở tại.
- Tạm trú trong các nhà khách, nhà ở tập thể của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, thì người tạm trú báo cho Ban bảo vệ trực tiếp quản lý nhà khách, nhà ở tập thể đó.
- Tạm trú trong các nhà ở tập thể không thuộc cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và tạm trú trong các hộ gia đình thì người tạm trú hoặc chủ hộ gia đình báo cho tổ trưởng nhân dân nơi tạm trú.
- Những người là bố, mẹ, vợ, chồng, con đến tạm trú ở nhà nhau cũng phải khai báo.
Thời hạn tạm trú không quá 6 tháng, hết hạn nếu còn tạm trú phải khai báo lại.
- Người ở các nhà tập thể của tổ chức không thuộc cơ quan Nhà nước và hộ gia đình thì người đi vắng hoặc chủ hộ báo cho tổ trưởng nhân dân nơi thường trú.
- Người ở các nhà tập thể của các cơ quan, tổ chức của Nhà nước thì báo cho Ban bảo vệ trực tiếp quản lý nhà ở tập thể.
- Thời hạn tạm vắng không quá 6 tháng, người nào vắng quá 6 tháng không có lý do rõ ràng thì cơ quan đăng ký hộ khẩu nơi thường trú xoá tên trong sổ hộ khẩu. Khi người ấy trở về sẽ xét đăng ký hộ khẩu trở lại.
- Người đi công tác, họp hội nghị, học tập hoặc đi chữa bệnh trong thời hạn nói trên cũng phải khai báo tạm vắng.
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ khẩu ở địa phương mình.
- 1 Thông tư 11/2005/TT-BCA-C11 hướng dẫn thi hành Nghị định 51/CP năm 1997 và Nghị định 108/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ khẩu do Bộ Công an ban hành
- 2 Luật Cư trú 2006
- 3 Hiến pháp năm 1980
- 4 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 5 Thông tư 05-TT/BNV(13) năm 1988 hướng dẫn Điều lệ đăng ký và quản lý hộ tịch do Bộ Nội vụ ban hành