Nghị định số 43/2012/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2004 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Dự trữ quốc gia, tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy quản lý, quy trình bảo quản, xây dựng quy chuẩn kỹ thuật và cơ chế quản lý giá đối với hàng hóa dự trữ quốc gia.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia, các Bộ, ngành được phân công quản lý hàng dự trữ quốc gia, các đơn vị dự trữ quốc gia trực thuộc và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động quản lý, bảo quản, xuất, nhập, mua, bán hàng dự trữ quốc gia.
Tổ chức hệ thống cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách
- Cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia.
- Hệ thống tổ chức được thiết lập theo ngành dọc bao gồm: Tổng cục Dự trữ Nhà nước ở trung ương và các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực được bố trí tại các địa bàn chiến lược trên phạm vi cả nước.
- Dưới Cục Dự trữ Nhà nước khu vực là các Chi cục Dự trữ Nhà nước. Các Chi cục này có nhiệm vụ trực tiếp quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia, đồng thời thực hiện việc xuất, nhập kho, mua vào, bán ra hàng hóa theo đúng lệnh của cấp có thẩm quyền.
Danh mục hàng dự trữ quốc gia và phân công quản lý
- Danh mục các mặt hàng dự trữ quốc gia cùng với việc phân công cơ quan chịu trách nhiệm quản lý cụ thể đối với từng loại hàng hóa được thực hiện thống nhất theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.
Quy trình xử lý tài sản dự trữ quốc gia bị hao hụt, hư hỏng, mất mát
- Việc xử lý được căn cứ trên các tài liệu pháp lý gồm: biên bản kiểm nghiệm, biên bản xác định hao hụt, biên bản xác nhận hàng bị hư hỏng hoặc giảm phẩm chất so với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (hoặc chỉ tiêu chất lượng, yêu cầu kỹ thuật bảo quản tạm thời), và biên bản xác định hàng dự trữ quốc gia bị mất.
- Hội đồng xử lý tài sản dự trữ của cơ quan, đơn vị dự trữ ở từng cấp có trách nhiệm xem xét, phân tích cụ thể để làm rõ nguyên nhân gây ra tình trạng hao hụt, hư hỏng, thiệt hại hoặc mất mát tài sản.
- Trên cơ sở phân tích nguyên nhân, Hội đồng đề xuất các biện pháp xử lý phù hợp để trình Thủ trưởng cơ quan, đơn vị dự trữ quốc gia xem xét quyết định.
Quy định nghiêm ngặt về bảo quản hàng dự trữ quốc gia
- Hàng dự trữ quốc gia bắt buộc phải được cất giữ đúng địa điểm đã quy định và được bảo quản nghiêm ngặt theo đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc các yêu cầu kỹ thuật bảo quản tạm thời.
- Mỗi loại hàng hóa phải có đầy đủ hồ sơ theo dõi, ghi chép rõ ràng về số lượng, chất lượng, giá trị cũng như toàn bộ các diễn biến phát sinh trong quá trình nhập kho, xuất kho và bảo quản.
- Nghiêm cấm mọi hành vi tự ý thay đổi địa điểm lưu kho hoặc thay đổi các yêu cầu kỹ thuật bảo quản khi chưa được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và định mức kinh tế - kỹ thuật
- Về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia và các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hàng dự trữ quốc gia theo quy định của Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Các Bộ, ngành quản lý có trách nhiệm xây dựng hồ sơ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thuộc phạm vi quản lý của mình gửi Bộ Tài chính.
- Trường hợp đặc biệt: Đối với mặt hàng mới đưa vào dự trữ hoặc khi chưa kịp sửa đổi quy chuẩn do thay đổi công nghệ, Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý tự xây dựng và quyết định chỉ tiêu chất lượng, yêu cầu bảo quản tạm thời sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính. Trong thời hạn tối đa 1 năm, Bộ, ngành quản lý phải hoàn thành việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật chính thức để gửi Bộ Tài chính ban hành.
- Về định mức kinh tế - kỹ thuật: Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành quản lý xây dựng và ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật (gồm định mức chi phí nhập kho, xuất kho, bảo quản và định mức hao hụt). Đây là căn cứ pháp lý để xây dựng kế hoạch, lập dự toán ngân sách nhà nước và ký hợp đồng thuê bảo quản hàng dự trữ. Các bộ, ngành quản lý có trách nhiệm tổ chức thực hiện định mức đã phê duyệt, bảo đảm quản lý chặt chẽ và tiết kiệm chi phí.
Cơ chế quản lý giá mua, giá bán hàng dự trữ quốc gia
- Đối với hàng dự trữ quốc gia về quốc phòng, an ninh: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an quy định mức giá mua và giá bán cụ thể sau khi đã thống nhất về nguyên tắc định giá với Bộ Tài chính.
- Đối với các mặt hàng khác: Căn cứ vào khung giá tối đa, tối thiểu do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý quyết định mức giá mua, giá bán cụ thể sát với giá thị trường tại từng thời điểm và địa bàn thuộc phạm vi quản lý, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính.
- Tham khảo ý kiến địa phương: Đối với các mặt hàng thuộc thẩm quyền quản lý giá của Sở Tài chính địa phương, Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý phải chỉ đạo lấy ý kiến tham khảo của Sở Tài chính trên địa bàn có mua, bán trước khi đưa ra quyết định giá cụ thể.
- Trình tự thủ tục: Việc xây dựng, thẩm định phương án giá và quyết định giá phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy định hiện hành của pháp luật về Giá.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn
- Nghị định 43/2012/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2012.
- Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan để hướng dẫn thi hành các nội dung của Nghị định này.
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 43/2012/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2012 |
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Pháp lệnh Dự trữ quốc gia ngày 29 tháng 4 năm 2004;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Dự trữ quốc gia.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Dự trữ quốc gia (sau đây gọi tắt là Nghị định số 196/2004/NĐ-CP:
1. Sửa đổi
“1. Cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia, được tổ chức theo hệ thống dọc gồm Tổng cục Dự trữ Nhà nước và các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực bố trí ở các địa bàn chiến lược trong cả nước.
Cục Dự trữ Nhà nước khu vực có các Chi cục Dự trữ Nhà nước, trực tiếp quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia và xuất, nhập kho, mua vào, bán ra hàng dự trữ quốc gia theo lệnh của cấp có thẩm quyền.”
2. Sửa đổi
“1. Danh mục hàng dự trữ quốc gia và phân công cơ quan quản lý hàng dự trữ quốc gia được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.”
3. Sửa đổi
“1. Căn cứ vào biên bản kiểm nghiệm; biên bản xác định hao hụt; biên bản xác nhận hàng bị hư hỏng, giảm phẩm chất so với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc chỉ tiêu chất lượng, yêu cầu kỹ thuật bảo quản tạm thời; biên bản xác định hàng dự trữ quốc gia bị mất, Hội đồng xử lý tài sản dự trữ của cơ quan, đơn vị dự trữ từng cấp xem xét, phân tích làm rõ nguyên nhân gây hao hụt, hư hỏng, thiệt hại hoặc bị mất, đề xuất các biện pháp xử lý với Thủ trưởng cơ quan, đơn vị dự trữ quốc gia.”
4. Sửa đổi
“Điều 14. Bảo quản hàng dự trữ quốc gia
Hàng dự trữ quốc gia phải được cất giữ đúng địa điểm quy định, bảo quản theo đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc yêu cầu kỹ thuật bảo quản tạm thời; phải có đủ hồ sơ ghi rõ số lượng, chất lượng, giá trị và các diễn biến trong quá trình nhập, xuất, bảo quản. Không được thay đổi địa điểm để hàng và các yêu cầu kỹ thuật bảo quản khi chưa được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
5. Sửa đổi
“Điều 15. Xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật hàng dự trữ quốc gia
1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hàng dự trữ quốc gia (tiêu chuẩn chất lượng nhập, xuất, yêu cầu bảo quản và thời hạn lưu kho):
a) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia và các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hàng dự trữ quốc gia theo quy định của Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia có trách nhiệm xây dựng hồ sơ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hàng dự trữ quốc gia thuộc phạm vi quản lý của mình gửi Bộ Tài chính.
b) Trường hợp chưa xây dựng được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với mặt hàng dự trữ quốc gia mới đưa vào dự trữ; chưa kịp sửa đổi, bổ sung chỉ tiêu kỹ thuật của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành do thay đổi yêu cầu kỹ thuật hoặc công nghệ bảo quản, Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia xây dựng và quyết định chỉ tiêu chất lượng và yêu cầu kỹ thuật bảo quản để tạm thời áp dụng sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ Tài chính. Trong thời gian tối đa là 1 năm kể từ khi bổ sung mặt hàng dự trữ quốc gia mới, thay đổi yêu cầu kỹ thuật hoặc công nghệ bảo quản, Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia phải hoàn thành việc xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để gửi Bộ Tài chính ban hành.
2. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia xây dựng, ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật hàng dự trữ quốc gia (bao gồm định mức chi phí nhập kho, chi phí xuất kho, chi phí bảo quản và định mức hao hụt hàng dự trữ quốc gia).
Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia có trách nhiệm xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật hàng dự trữ quốc gia thuộc phạm vi quản lý của mình gửi Bộ Tài chính thẩm định và ban hành.
Định mức kinh tế - kỹ thuật hàng dự trữ quốc gia là căn cứ xây dựng kế hoạch, lập dự toán ngân sách, ký hợp đồng thuê bảo quản hàng dự trữ quốc gia.
Căn cứ vào định mức đã được phê duyệt, các bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia tổ chức triển khai thực hiện định mức, quản lý chặt chẽ, tiết kiệm chi phí quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia.”
6. Sửa đổi, bổ sung
“b) Riêng đối với hàng dự trữ quốc gia về quốc phòng, an ninh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định giá mua, giá bán cụ thể sau khi thống nhất về nguyên tắc định giá với Bộ Tài chính.
2. Căn cứ vào giá tối đa, tối thiểu do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia quyết định mức giá mua, giá bán cụ thể theo quy định hiện hành, sát với giá thị trường tại từng thời điểm và từng địa bàn thuộc phạm vi quản lý; đồng thời báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính. Đối với giá mua, giá bán những mặt hàng thuộc thẩm quyền quản lý về giá của Sở Tài chính địa phương, Thủ trưởng Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia chỉ đạo lấy ý kiến tham khảo của Sở Tài chính trên địa bàn có mua, bán hàng dự trữ quốc gia trước khi quyết định.
4. Trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định phương án giá, quyết định giá thực hiện theo đúng quy định hiện hành của pháp luật về Giá.”
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2012.
2. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
Nơi nhận: | TM. CHÍNH PHỦ |