Nghị định số 47-CP được ban hành năm 1993 kèm theo Quy chế tạm thời về trả nợ nước ngoài bằng hàng hoá xuất khẩu nhằm thiết lập cơ chế quản lý, điều hành thống nhất và hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng hóa để thanh toán các khoản nợ nước ngoài của Nhà nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quy chế áp dụng đối với các hoạt động xuất khẩu hàng hóa sản xuất tại Việt Nam để thực hiện kế hoạch trả nợ nước ngoài của Chính phủ, được thanh toán từ nguồn ngân sách Nhà nước theo tỷ giá đối với từng nhóm hàng, mặt hàng. Đối tượng thực hiện bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hàng hóa trả nợ và các doanh nghiệp đầu mối nhận ủy thác giao hàng.
Nguyên tắc và phương thức phân bổ hạn mức trả nợ
- Nguyên tắc phân bổ hạn mức: Hàng hoá xuất khẩu trả nợ được phân bổ dựa trên giá trị kim ngạch xuất khẩu (hạn mức trả nợ), không phân bổ theo số lượng thực tế. Tổng trị giá hàng hoá được phân bổ phải bảo đảm phù hợp với hạn mức trả nợ mà ngân sách nhà nước đã bố trí.
- Chính sách ưu tiên: Ưu tiên phân bổ hạn mức cho các ngành, địa phương trực tiếp sản xuất các mặt hàng nằm trong danh mục trả nợ đã ký kết và đang gặp khó khăn về ngân sách. Trong đó, trước hết ưu tiên cho các đơn vị sản xuất quốc doanh đang gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ nhưng có sản phẩm phù hợp với danh mục trả nợ.
- Phương thức phân bổ: Đối với các mặt hàng đã xác định rõ khả năng và năng lực sản xuất của ngành hàng hoặc đơn vị cụ thể, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Thương mại sẽ tiến hành phân bổ trực tiếp. Phần hạn mức còn lại sẽ được giao cho các Bộ, ngành và địa phương tự phân bổ cho các doanh nghiệp trực thuộc, đồng thời phải thông báo cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Thương mại và Bộ Tài chính để theo dõi.
- Cân đối ngân sách: Việc phân bổ hạn mức trả nợ của Bộ Tài chính và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước phải dựa trên cơ sở cân đối chặt chẽ với khả năng chi thực tế của ngân sách nhà nước theo từng quý và cả năm.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước
- Ủy ban Kế hoạch Nhà nước: Chịu trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan, địa phương liên quan để điều hành thực hiện kế hoạch trả nợ. Định kỳ hàng quý, Ủy ban có trách nhiệm tổng hợp tình hình và báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ. Đối với các vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền, Ủy ban phải kịp thời xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng. Trường hợp phía nước ngoài yêu cầu thay đổi cơ cấu hàng trả nợ, Ủy ban sẽ bố trí lại kế hoạch trong hạn mức được duyệt sau khi nhận thông báo từ Bộ Thương mại.
- Bộ Thương mại: Có trách nhiệm thông báo cho phía nước ngoài về các đối tác phía Việt Nam; hướng dẫn các doanh nghiệp ký kết hợp đồng ngoại thương, chỉ đạo về giá cả và các điều kiện thương mại; cấp giấy phép xuất khẩu (nếu cần) và kiểm tra chất lượng hàng hóa. Đồng thời, Bộ Thương mại chỉ định các đơn vị đủ điều kiện làm đầu mối nhận giao hàng trả nợ và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng cũng như phí dịch vụ của các đơn vị này.
- Bộ Tài chính: Chủ trì phối hợp với Bộ Thương mại, Ban Vật giá Chính phủ và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước ban hành thông tư hướng dẫn nguyên tắc xác định tỷ giá thanh toán hàng xuất khẩu trả nợ. Bộ Tài chính cũng chủ trì tổ công tác định tỷ giá giữa đồng Việt Nam và các ngoại tệ trả nợ để quyết định tỷ giá thanh toán cụ thể. Ngoài ra, Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Nhà nước thanh toán kịp thời tiền hàng cho doanh nghiệp; nếu chậm thanh toán từ một tháng trở lên (kể từ khi nhận đủ hồ sơ), Bộ Tài chính phải trả lãi cho doanh nghiệp theo lãi suất tiền vay ngân hàng.
- Ngân hàng Nhà nước: Theo dõi sát sao kim ngạch thực hiện trả nợ của các doanh nghiệp để tiến hành quyết toán với Ngân hàng nhận nợ của các nước vào tài khoản của Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thông báo kịp thời cho Bộ Tài chính khi phía nước ngoài báo có, đồng thời chỉ đạo Ngân hàng Ngoại thương thực hiện các thủ tục thanh toán đối ngoại để trừ nợ cho Nhà nước.
Quyền hạn và trách nhiệm của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp giao hàng trả nợ: Phải bảo đảm thực hiện đúng hạn mức trả nợ được giao, tuân thủ nghiêm ngặt các thỏa thuận về giá cả, thời gian giao hàng và tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa đã ký kết. Doanh nghiệp có quyền tự lựa chọn doanh nghiệp đầu mối trong số các đơn vị được chỉ định để thực hiện giao hàng theo hạn mức.
- Doanh nghiệp đầu mối nhận ủy thác: Có trách nhiệm công khai, minh bạch với doanh nghiệp ủy thác về nội dung hợp đồng ngoại, chi phí giao dịch thực tế, tỷ giá thanh toán và các cam kết liên quan. Doanh nghiệp đầu mối chỉ được phép thu phí dịch vụ hợp lý, với mức tối đa không quá 1% trị giá FOB của lô hàng xuất khẩu trả nợ theo hợp đồng.
Hiệu lực thi hành
Quy chế kèm theo Nghị định số 47-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (năm 1993) và thay thế hoàn toàn cho Điều 12 của Nghị định số 114-HĐBT ngày 07 tháng 04 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 47-CP | Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 1993 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước tại công văn số 758-UB/LTVTHH/KTĐN ngày 17 tháng 4 năm 1993,
NGHỊ ĐỊNH :
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
QUY CHẾ TẠM THỜI
VỀ TRẢ NỢ NƯỚC NGOÀI BẰNG HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU
(Kèm theo Nghị định số 47-CP ngày 26-6-1993 của Chính phủ).
Sau khi ký với phía nước ngoài, Bộ Thương mại các ngành liên quan trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các văn kiện, Hiệp định liên quan đã ký kết và đồng gửi Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước để triển khai kế hoạch trả nợ.
II. NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG THỨC PHÂN BỔ HẠN MỨC TRẢ NỢ
III. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN VÀ ĐƠN VỊ NHẬN HẠN MỨC TRẢ NỢ
- Thông báo cho nước ngoài những đối tác của phía Việt Nam;
Hướng dẫn chung để các doanh nghiệp ký hợp đồng ngoại; chỉ đạo về giá cả và các điều kiện thương mại khác; cấp giấy phép xuất khẩu (nếu cần), kiểm tra bảo đảm chất lượng hàng hoá đã ký kết;
- Chỉ định các đơn vị có đủ điều kiện làm đầu mối nhận giao hàng trả nợ; kiểm tra việc các đơn vị này bảo đảm thực hiện đúng hợp đồng và phí nhận đầu mối.
Điều 12.- Bộ Tài chính cần phải:
- Chủ trị cùng Bộ Thương mại, Ban Vật giá Chính Phủ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước xây dựng và ban hành thông tư xác định các nguyên tắc định tỷ giá thanh toán hàng xuất khẩu trả nợ đối với từng mặt hàng, nhóm hàng;
- Chủ trì tổ công tác định tỷ giá giữa đồng Việt Nam và các đồng ngoại tệ trả nợ (gồm đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Văn phòng Chính phủ và các đơn vị có hàng xuất khẩu trả nợ) để Bộ quyết định tỷ giá thanh toán cụ thể;
- Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước, thực hiện việc thanh toán kịp thời tiền hàng cho các doanh nghiệp đã giao hàng trả nợ hoặc có doanh thu dịch vụ trừ nợ nước ngoài của Nhà nước theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính, nếu thanh toán chậm từ một tháng trở lên tính từ khi có đầy đủ hồ sơ thanh toán theo quy định, thì phải trả lãi theo lãi xuất tiền vay mà doanh nghiệp vay Ngân hàng.
Điều 13.- Ngân hàng Nhà nước cần phải:
- Theo dõi kim ngạch các doanh nghiệp thực hiện trả nợ để quyết toán với Ngân hàng nhận nợ các nước vào tài khoản của Việt Nam;
- Thông báo kịp thời cho Bộ Tài chính biết khi Ngân hàng nhận nợ các nước báo có (đã nhận nợ) đối với từng lô hàng đã giao.
- Chỉ đạo Ngân hàng Ngoại thương trong việc làm thủ tục thanh toán đối ngoại để trừ nợ Nhà nước đối với phía nước ngoài.
Điều 14.- Các doanh nghiệp giao hàng trả nợ cần phải:
- Bảo đảm thực hiện đúng hạn mức trả nợ được giao; các điều kiện về giá cả, thời gian giao hàng và chất lượng hàng hoá đã ký kết;
- Được quyền chọn doanh nghiệp làm đầu mối cho mình trong số các doanh nghiệp được chỉ định làm đầu mối giao hàng trả nợ theo hạn mức được phân bổ.
Điều 15.- Các doanh nghiệp đầu mối nhận uỷ thác giao hàng trả nợ cần phải:
- Bảo đảm công khai với doanh nghiệp mà mình làm đầu mối về nội dung của hợp đồng ngoại, về chi phí giao dịch, về tỷ giá thanh toán và thực hiện đúng các cam kết khác.
- Chỉ được phép nhận phí đầu mối hợp lý, tối đa không quá 1% trị giá lô hàng Hợp đồng xuất trả nợ (giá FOB).