Nghị định 6-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1991 nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh Thuế tài nguyên ngày 30-03-1990, quy định chi tiết về đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, biểu thuế suất, chế độ kê khai nộp thuế và các trường hợp được xét giảm thuế tài nguyên tại Việt Nam.
Đối tượng nộp thuế và phạm vi áp dụng
- Mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hoạt động khai thác tài nguyên dưới mọi hình thức đều là đối tượng nộp thuế tài nguyên.
- Tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên thuộc chủ quyền của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc đối tượng tính thuế tài nguyên.
- Đối với xí nghiệp liên doanh chia sản phẩm giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài: Thuế tài nguyên phải nộp của xí nghiệp liên doanh hoặc của bên nước ngoài được xác định trong hợp đồng liên doanh đã được Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư chuẩn y, tính vào phần sản phẩm chia cho bên Việt Nam. Khi chia sản phẩm khai thác, bên Việt Nam có trách nhiệm nộp khoản thuế này vào Ngân sách Nhà nước.
Các trường hợp không phải nộp thuế tài nguyên
- Tổ chức, cá nhân Việt Nam cư trú trong nước khai thác sản phẩm rừng tự nhiên đã nộp tiền nuôi rừng theo Quyết định số 116-HĐBT ngày 20 tháng 7 năm 1988. Bộ Tài chính và Bộ Lâm nghiệp có trách nhiệm phối hợp nghiên cứu chuyển đổi chế độ nộp tiền nuôi rừng sang nộp thuế tài nguyên để áp dụng thống nhất trong cả nước.
- Tổ chức, cá nhân khai thác nguồn nước tự nhiên, ngoại trừ nguồn nước dùng cho mục đích sản xuất thuỷ điện.
- Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp tác kinh doanh đã được Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư quyết định mức thu tiền tài nguyên trong giấy phép đầu tư trước ngày Pháp lệnh Thuế tài nguyên có hiệu lực thì tiếp tục trả tiền tài nguyên theo giấy phép, không phải nộp thuế tài nguyên cho đến khi hết hạn hợp đồng.
Căn cứ tính thuế và phương pháp xác định giá tính thuế
- Căn cứ tính thuế tài nguyên bao gồm: Số lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế đơn vị tài nguyên nguyên khai và thuế suất của loại tài nguyên đó.
- Số lượng tài nguyên tính thuế: Là khối lượng hoặc trọng lượng thực tế của từng loại tài nguyên nguyên khai khai thác trong kỳ (tháng, quý, năm), không phụ thuộc vào việc tài nguyên đó đã được tiêu thụ hay chưa.
- Giá tính thuế tài nguyên được xác định theo giá bán thực tế của tài nguyên nguyên khai:
- Đối với tài nguyên tiêu thụ trong nước (bán nội địa hoặc bán cho tổ chức khác để xuất khẩu): Là giá bán thực tế tại thời điểm tính thuế.
- Đối với tài nguyên do tổ chức khai thác trực tiếp xuất khẩu: Là giá bán bình quân bằng ngoại tệ theo hợp đồng tại cửa khẩu Việt Nam (giá FOB) ở thời điểm tính thuế.
- Đối với tài nguyên nguyên khai không có giá bán trực tiếp (do đưa vào chế biến tiếp hoặc chứa nhiều hợp chất phức tạp): Bộ Tài chính phối hợp với Bộ chủ quản để quy định mức giá tính thuế cụ thể.
Biểu thuế suất thuế tài nguyên
Thuế suất đối với từng loại tài nguyên được xác định dựa trên chất lượng tài nguyên, điều kiện khai thác, vận chuyển, thông lệ quốc tế và thị trường tiêu thụ. Khung thuế suất cụ thể cho các nhóm tài nguyên được quy định như sau:
- Khoáng sản kim loại (2% - 10%): Khoáng sản kim loại đen từ 2% đến 8%; khoáng sản kim loại màu từ 3% đến 10%; khoáng sản kim loại quý hiếm (như wolfram, thiếc, antimoan...) từ 5% đến 10%, riêng đối với vàng áp dụng mức từ 2% đến 15%.
- Than (1% - 5%): Riêng đối với than nâu và than mỡ áp dụng mức thuế suất từ 4% đến 10%.
- Dầu mỏ và khí đốt (6% - 20%): Dầu mỏ áp dụng từ 10% đến 20%; khí đốt áp dụng từ 6% đến 10%.
- Khoáng sản không kim loại (1% - 12%): Khoáng sản không kim loại dùng trong công nghiệp từ 3% đến 12%; vật liệu xây dựng cao cấp từ 2% đến 8%; vật liệu xây dựng thông thường từ 1% đến 3%; đá quý từ 3% đến 15%; các loại khoáng sản không kim loại khác từ 1% đến 5%.
- Sản phẩm rừng tự nhiên (10% - 40%): Gỗ các loại từ 15% đến 40%; các loại đặc sản và dược liệu tự nhiên (như trầm hương, hồi, quế, sa nhân...) từ 20% đến 40%; chim và thú rừng từ 15% đến 40%.
- Thuỷ sản tự nhiên (3% - 10%): Riêng đối với yến sào, hải sâm, đồi mồi, ngọc trai áp dụng mức từ 5% đến 10%.
- Tài nguyên khác: Áp dụng mức thuế suất từ 1% đến 10%. Đối với các loại tài nguyên quý hiếm, có giá trị kinh tế cao và điều kiện khai thác thuận lợi sẽ áp dụng thêm thuế suất bổ sung. Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ liên quan hướng dẫn chi tiết danh mục từng nhóm tài nguyên và biểu thuế suất này.
Chế độ kê khai, nộp thuế và quản lý kế toán
- Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên phải thực hiện nghiêm túc việc đăng ký, kê khai và nộp thuế tài nguyên theo đúng quy định. Mọi hành vi vi phạm sẽ bị xử lý và xử phạt theo quy định của Pháp lệnh Thuế tài nguyên.
- Người nộp thuế phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ sổ sách kế toán, lập chứng từ mua bán, thu tiền theo quy định của Pháp lệnh Kế toán và Thống kê ngày 10 tháng 5 năm 1988 cùng các văn bản hướng dẫn hiện hành.
- Thuế tài nguyên thu được là khoản thu thuộc Ngân sách Nhà nước và được điều tiết hàng năm cho ngân sách địa phương theo quy định về phân cấp quản lý ngân sách của Hội đồng Bộ trưởng.
- Cơ quan thuế Nhà nước có trách nhiệm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn kiểm tra, đôn đốc thu thuế theo quy định pháp luật.
Quy định về giảm thuế tài nguyên
Việc xét giảm thuế tài nguyên được áp dụng cho các tổ chức, cá nhân trong nước trong các trường hợp cụ thể sau:
- Khai thác mới gặp khó khăn hoặc bị thiên tai, địch hoạ: Được xem xét giảm thuế dựa trên mức độ thiệt hại và khó khăn thực tế. Thời gian giảm thuế tối dã không quá 3 năm kể từ ngày bắt đầu khai thác. Mức giảm tối đa không quá 50% số thuế phải nộp trong năm thứ nhất, không quá 40% trong năm thứ hai và không quá 30% trong năm thứ ba.
- Khai thác tận thu: Đối với hoạt động khai thác tận thu tài nguyên tại các khu vực đã đóng cửa hoặc thôi khai thác, mức giảm thuế tài nguyên tối đa không quá 50% số thuế phải nộp đối với lượng tài nguyên tận thu được.
- Bộ Tài chính chịu trách nhiệm ban hành các nguyên tắc và mức giảm thuế cụ thể cho từng trường hợp theo quy định.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 6-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Tất cả các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra việc chấp hành Nghị định này.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 6-HĐBT | Hà Nội, ngày07 tháng01 năm 1991 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Pháp lệnh Thuế tài nguyên ngày 30 tháng 3 năm 1990 ban hành kèm theo Lệnh số 34-LCT/HĐNN8 ngày 9 tháng 4 năm 1990 của Hội đồng Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế và các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có khai thác tài nguyên dưới mọi hình thức đều là đối tượng nộp thuế tài nguyên theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Thuế tài nguyên.
Điều 3. Không phải nộp thuế tài nguyên trong các trường hợp sau đây:
1. Đối với các tổ chức, cá nhân là người Việt
a. Khai thác các sản phẩm rừng tự nhiên đã phải nộp tiền nuôi rừng theo quy định tại quyết định số 116-HĐBT ngày 20 tháng 7 năm 1988 của Hội đồng bộ trưởng.
Bộ Tài chính và Bộ Lâm nghiệp phối hợp nghiên cứu để chuyển chế độ nộp tiền nuôi rừng sang chế độ nộp thuế tài nguyên theo Pháp lệnh Thuế tài nguyên đối với hoạt động khai thác sản phẩm rừng tự nhiên để áp dụng thống nhất, cùng một thời điểm trong cả nước.
b. Khai thác nguồn nước tự nhiên, trừ khai thác nguồn nước dùng cho sản xuất thuỷ điện.
2. Đối với các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt
Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng đã được Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư quyết định mức thu tiền tài nguyên trong giấy phép đầu tư trước ngày Pháp lệnh thuế tài nguyên có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục trả tiền nguyên, không phải nộp thuế tài nguyên cho đến hết thời hạn hợp đồng.
1. Đối với tài nguyên tiêu thụ tại thị trường Việt
2. Đối với tài nguyên do tổ chức khai thác trực tiếp xuất khẩu, giá tính thuế là giá bán bình quân bằng ngoại tệ theo hợp đồng của tài nguyên đó tại cửa khẩu nước Việt Nam (FOB) ở thời điểm tính thuế tài nguyên.
3. Trường hợp tài nguyên nguyên khai không có giá bán như đã quy định tại điểm 1 và 2 Điều 7: (khai thác tài nguyên rồi tiếp tục chế biến; tài nguyên chứa nhiều hợp chất khác nhau thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên v. v...) thì Bộ Tài chính phối hợp với Bộ chủ quản để quy định cụ thể giá tính thuế đối với từng loại tài nguyên.
Biểu thuế suất từng nhóm tài nguyên quy định theo khung thuế suất như sau:
Nhóm và loại tài nguyên Thuế suất (%)
I- Khoáng sản kim loại 2 - 10%
1. Khoáng sản kim loại đen 2 - 8%
2. Khoáng sản kim loại màu 3 - 10%
3. Khoáng sản kim loại quý hiếm 5 - 10%
(Wolfram, thiếc, Antimoan...)
riêng: vàng 2 - 15%
II- Than 1 - 5%
riêng: than nâu, than mỡ 4 - 10%
III- Dầu mỏ, khí đốt: 6 - 20%
1. Dầu mỏ 10 - 20%
2. Khí đốt 6 - 10%
IV- Khoáng sản không kim loại 1 - 12%
1. Khoáng sản không kim loại công nghiệp 3 - 12%
2. Vật liệu xây dựng cao cấp 2 - 8%
3. Vật liệu xây dựng thông thường 1 - 3%
4. Đá quý 3 - 15%
5. Khoáng sản không kim loại khác 1 - 5%
V- Sản phẩm rừng tự nhiên 10 - 40%
Riêng: - Gỗ các loại 15 - 40%
- Đặc sản, dược liệu (trầm hương, hồi, quế, sa nhân v.v) 20 - 40%
- Chim, thú rừng 15 - 40%
VI- Thuỷ sản tự nhiên: 3 - 10%
Riêng: Yến sào, hải sâm, đồi mồi, ngọc trai 5 - 10%
VII- Tài nguyên khác: 1 - 10%
Đối với những loại tài nguyên quý hiếm, có giá trị cao, khai thác thuận lợi, thì sẽ có thuế suất bổ sung.
Bộ Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết nội dung, thủ tục kê khai đăng ký, nộp thuế tài nguyên.
Điều 14. Được xét giảm thuế tài nguyên trong các trường hợp sau đây:
1. Các tổ chức, cá nhân trong nước khai thác tài nguyên trong thời gian mới khai thác gặp khó khăn, hoặc bị thiên tai, địch hoạ có thể được xét giảm thuế tài nguyên.
Thời gian giảm và mức giảm thuế tài nguyên tuỳ thuộc vào thời gian hoạt động khai thác và mức độ khó khăn trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của tổ chức, cá nhân đối với loại tài nguyên đó, nhưng thời gian giảm tối đa không quá 3 năm kể từ ngày bắt đầu khai thác; mức giảm không quá 50% số thuế phải nộp trong năm thứ nhất, không quá 40% trong năm thứ 2, và không qua 30%số thuế phải nộp trong năm thứ 3.
2. Các tổ chức, cá nhân trong nước khai thác tận thu tài nguyên ở những vùng đã thôi khai thác, có thể được giảm thuế tài nguyên đối với số tài nguyên tận thu, mức giảm cao nhất không quá 50% số thuế phải nộp.
Điều 17. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2 Quyết định 116-HĐBT năm 1988 về việc sửa đổi mức thu tiền nuôi rừng và phương thức quản lý, sử dụng tiền nuôi rừng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Pháp lệnh Thuế Tài nguyên năm 1990 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 4 Thông tư 07-TC/TCT năm 1991 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước và Nghị định 06-HĐBT 1991 về thuế tài nguyên do Bộ tài chính ban hành
- 5 Công văn hướng dẫn thu thuế tài nguyên nước sản xuất thuỷ điện