Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 661-TTg được ban hành năm 1956 bởi Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng, ban hành kèm theo Bản điều lệ tạm thời về thuế thổ trạch nhằm bãi bỏ các thể lệ hiện hành về thuế thổ trạch ở vùng mới giải phóng và thiết lập một hệ thống thuế thống nhất, công bằng đối với nhà và đất tại các đô thị.

Phạm vi và đối tượng áp dụng thuế thổ trạch

Quy định về phạm vi áp dụng và đối tượng chịu thuế được xác định rõ ràng nhằm đảm bảo tính minh bạch trong quản lý thuế:

  • Phạm vi áp dụng: Thuế thổ trạch được áp dụng tại các thành phố và thị trấn do Bộ Tài chính quy định cụ thể. Các địa phương không được tự ý thu thuế nếu chưa có quyết định từ Bộ Tài chính.
  • Đối tượng nộp thuế: Người sở hữu nhà, đất hoặc người nhận cầm cố nhà, đất có nghĩa vụ nộp thuế.
  • Trường hợp đặc biệt: Người quản lý hoặc người sử dụng nhà, đất phải nộp thuế thay nếu chủ sở hữu hoặc người nhận cầm cố không có mặt tại địa phương, hoặc khi đang có tranh chấp chưa giải quyết giữa các bên liên quan về quyền sở hữu nhà, đất.

Các trường hợp miễn, giảm thuế thổ trạch

Điều lệ quy định cụ thể các trường hợp được miễn thuế hoàn toàn hoặc miễn thuế có thời hạn nhằm hỗ trợ nhân dân và khuyến khích xây dựng:

  • Miễn thuế hoàn toàn:
    • Nhà, đất thuộc sở hữu của Nhà nước.
    • Nhà, đất của tư nhân phục vụ lợi ích công cộng, không phát sinh lợi tức và được Ủy ban Hành chính cấp tỉnh hoặc thành phố phê duyệt.
    • Nhà, đất thuộc các tôn giáo sử dụng vào mục đích thờ cúng được Ủy ban Hành chính cấp tỉnh hoặc thành phố phê duyệt.
    • Nhà tạm làm bằng tre, lá hoặc các vật liệu dễ hư hỏng khác.
    • Nhà đổ nát được Ủy ban Hành chính cấp tỉnh hoặc thành phố chấp thuận miễn thuế.
  • Miễn thuế có thời hạn:
    • Nhà mới xây dựng được miễn thuế trong thời hạn 3 năm kể từ ngày hoàn thành.
    • Nhà sửa chữa lớn với chi phí vượt quá một nửa chi phí xây mới được miễn thuế trong thời hạn 2 năm kể từ ngày sửa chữa xong.
  • Thẩm quyền đặc biệt: Ủy ban Hành chính tỉnh hoặc thành phố có quyền xem xét miễn hoặc giảm thuế cho các trường hợp đặc biệt khác ngoài quy định chung.

Thuế suất và phương pháp tính thuế

Mức thuế suất được phân định rõ ràng dựa trên loại hình tài sản và giá trị tiêu chuẩn:

  • Đất có nhà ở: Thuế gồm hai phần riêng biệt: phần nhà chịu mức thuế cả năm bằng 0,8% tính trên giá nhà tiêu chuẩn; phần đất chịu mức thuế cả năm bằng 1,2% tính trên giá đất tiêu chuẩn.
  • Đất trống (không cất nhà): Thuế suất cả năm bằng 1,2% giá đất tiêu chuẩn.
  • Trường hợp đặc biệt không tách được giá nhà và đất: Thuế tính gộp cả năm bằng 1,2% giá trị nhà đất tiêu chuẩn. Nếu không xác định được giá tiêu chuẩn, thuế sẽ tính bằng 15% giá thuê nhà đất tiêu chuẩn cả năm.

Phương pháp định giá và tổ chức thu thuế

Để đảm bảo tính công bằng và khuyến khích xây dựng, công tác định giá và thu thuế được thực hiện theo quy trình chặt chẽ:

  • Căn cứ định giá tiêu chuẩn: Giá nhà tiêu chuẩn dựa trên giá giao dịch thực tế và chi phí xây mới; giá đất tiêu chuẩn dựa trên vị trí và giá mua bán đất tại địa phương; giá nhà đất gộp hoặc giá thuê dựa trên khu vực, hiện trạng và mặt bằng chung.
  • Kỳ hạn thu thuế: Thuế thổ trạch tính cho cả năm nhưng được chia làm hai kỳ thu để giảm bớt gánh nặng cho người dân: kỳ một thu vào tháng 5 và kỳ hai thu vào tháng 11 hàng năm.
  • Ban định giá nhà đất: Được thành lập tại các tỉnh, thành phố gồm đại diện Ủy ban Hành chính và các ngành liên quan (Tài chính, Thuế vụ, Công chính, Công thương, Địa chính, Trước bạ, Quản lý nhà). Ban định giá có trách nhiệm tham khảo ý kiến người dân để đưa ra mức giá sát thực tế. Việc định giá được thực hiện mỗi năm một lần, phải được Ủy ban Hành chính cấp tỉnh duyệt và Bộ Tài chính thông qua trước khi công bố.

Quy trình khai báo và nộp thuế

Người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các thủ tục hành chính về thuế:

  • Thời hạn khai báo: Trong vòng 1 tháng kể từ khi có thông báo định giá của Ủy ban Hành chính, người nộp thuế phải kê khai thông tin chi tiết về nhà đất cho cơ quan thuế. Đối với nhà đất thuộc diện miễn thuế vẫn phải thực hiện thủ tục khai báo này.
  • Khai báo biến động: Khi có thay đổi về địa chỉ, chuyển nhượng, xây thêm hoặc sửa chữa làm thay đổi giá trị nhà đất, chủ sở hữu phải khai báo trong vòng 10 ngày kể từ khi hoàn thành.
  • Giải quyết khiếu nại: Người nộp thuế có quyền khiếu nại lên Ủy ban Hành chính cấp tỉnh hoặc thành phố nếu thấy mức thuế không hợp lý. Tuy nhiên, trong thời gian chờ giải quyết, người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số thuế đúng hạn. Khoản thuế nộp thừa (nếu có) sẽ được hoàn trả sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại.

Chế tài xử phạt và chính sách khen thưởng

Điều lệ quy định các biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ thuế, đồng thời khuyến khích sự giám sát của nhân dân:

  • Phạt chậm khai báo: Hành vi không khai báo đúng hạn bị phạt tiền từ 20% trị giá nhà đất trở xuống, mức phạt tối đa không quá 1.000.000 đồng.
  • Phạt gian lận thuế: Hành vi khai man, trốn thuế ngoài việc phải truy thu đủ số thuế còn bị phạt tiền lên đến 5 lần số thuế gian lận.
  • Phạt chậm nộp thuế: Mỗi ngày nộp chậm bị phạt thêm 1% tính trên số tiền thuế nộp chậm.
  • Xử lý hình sự: Các trường hợp cố tình trì hoãn, chống đối việc nộp thuế có thể bị truy tố trước tòa án.
  • Khen thưởng tố giác: Người có công tố giác và hỗ trợ cơ quan thuế phát hiện các vụ việc gian lậu thuế được thưởng từ 20% đến 30% số tiền phạt thu được.

Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện

Nghị định 661-TTg có hiệu lực thi hành kể từ năm 1955. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết, giải thích và tổ chức thi hành bản điều lệ này trên toàn quốc.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 661-TTg

Hà Nội, ngày 12 tháng 01 năm 1956

NGHỊ ĐỊNH

BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ TẠM THỜI VỀ THUẾ THỔ TRẠCH

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Chiếu các thể lệ hiện hành về thuế thổ trạch ở vùng mới giải phóng;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nay bãi bỏ các thể lệ hiện hành về thuế thổ trạch ở vùng mới giải phóng và ban hành bản điều lệ tạm thời về thuế thổ trạch kèm theo Nghị định này.

Điều 2. Nghị định này bắt đầu thi hành kể từ năm 1955.

Điều 3. Ông Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

ĐIỀU LỆ

TẠM THỜI VỀ THUẾ THỔ TRẠCH

Mục I: NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1. Bản điều lệ tạm thời này quy định thuế thổ trạch ở các thành phố và thị trấn. Bộ Tài chính sẽ quy định những thành phố và thị trấn được phép thu thuế thổ trạch, địa phương không được tự động thu nếu chưa có quyết định của Bộ Tài chính

Thuế thổ trạch do cơ quan thuế vụ thu.

Điều 2. Thuế thổ trạch do người có nhà, đất, người nhận cầm nhà, đất nộp.

Người quản lý hay người sử dụng nhà, đất phải nộp thuế thổ trạch trong những trường hợp dưới đây:

1) Người có nhà, đất hoặc người nhận cầm nhà, đất không ở địa phương.

2) Có sự tranh chấp giữa người có nhà, đất, người nhận cầm nhà, đất, người thuê nhà,đất mà chưa được giải quyết.

Điều 3. Được miễn hẳn thuế thổ trạch:

- Nhà, đất của Nhà nước.

- Nhà, đất của tư nhân sử dụng cho lợi ích công cộng, không có lợi tức, được Ủy ban Hành chính cấp tỉnh hay thành phố chuẩn y miễn thuế.

- Nhà đất của các tôn giáo dùng vào việc thờ cúng, được Ủy ban Hành chính hay thành phố chuẩn y miễn thuế.

- Nhà làm bằng tre, lá hay bằng những vật liệu dễ hư hỏng khác.

- Nhà đổ nát được Ủy ban Hành chính tỉnh hay thành phố chuẩn y miễn thuế.

Điều 4. Được miễn thuế thổ trạch một thời hạn:

- Nhà mới làm được miễn thuế 3 năm kể từ ngày làm xong.

- Nhà sửa chữa lại mà tiền phí tổn bằng quá nửa số tiền làm nhà mới được miễn thuế 2 năm kể từ ngày sửa chữa xong.

Điều 5. Ủy ban Hành chính tỉnh hay thành phố có thể xét cho miễn hoặc giảm thuế trong những trường hợp đặc biệt khác chưa quy định ở điều 3 và điều 4.

Mục II:THUẾ SUẤT

Điều 6. Thuế thổ trạch ấn định như sau:

1) Đối với đất có cất nhà, thuế thổ trạch gồm 2 phần, một phần thu về nhà, một phần thu về đất:

- Về phần nhà, thuế cả năm bằng 0,8% giá nhà tiêu chuẩn.

- Về phần đất, thuế cả năm bằng 1,2% giá đất tiêu chuẩn.

2) Đối với đất không cất nhà, thuế cả năm bằng 1,2% giá đất tiêu chuẩn.

Điều 7. Đối với đất có cất nhà, trong trường hợp đặc biệt, ở địa phương nào không phân tách được rõ giá đất và giá nhà thì thuế căn cứ vào giá nhà, đất gộp lại, thuế cả năm bằng 1,2% giá nhà đất tiêu chuẩn; nếu không tìm được giá nhà đất tiêu chuẩn thì thuế căn cứ vào giá thuế nhà đất, thuế cả năm bằng 15% giá thuế nhà đất tiêu chuẩn.

Mục III: PHƯƠNG PHÁP THU THUẾ

Điều 8. – Để việc đóng góp được công bằng hợp lý, để khuyến khích nhân dân xây dựng nhà cửa, giá tiêu chuẩn nói ở điều 6 và 7 định như sau:

- Về giá nhà tiêu chuẩn, thì căn cứ vào giá mua bán nhà nói chung ở địa phương và giá tiền xây dựng nhà mới, rồi chia ra từng loại, từng hạng mà định.

- Về giá đất tiêu chuẩn, thì căn cứ vào vị trí của đất và giá mua bán đất nói chung ở địa phương, rồi chia ra từng khu, từng hạng mà định.

- Về giá nhà đất tiêu chuẩn, thì căn cứ vào khu vực xây dựng nhà, hiện trạng nhà và giá mua bán nhà đất nói chung ở địa phương, rồi chia ra từng khu, từng loại, từng hạng mà định.

- Về giá nhà đất tiêu chuẩn, thì căn cứ vào khu vực xây dựng nhà, hiện trạng nhà và giá thuế nhà đất nói chung ở địa phương, rồi chia ra từng khu, từng loại, từng hạng mà định.

Điều 9. Thuế thổ trạch tính cho cả năm nhưng thu làm hai kỳ,mỗi kỳ thu nửa số thuế; kỳ đầu thu vào tháng 5 và kỳ sau thu vào tháng 11.

Điều 10. Ở những tỉnh hay thành phố có thu thuế thổ trạch đều thành lập Ban định giá nhà đất. Thành phần Ban định giá nhà đất gồm có: đại biểu Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh và đại biểu các ngành Tài chính, Thuế vụ, Công chính, Công thương, Địa chính, Trước bạ, cơ quan Quản lý nhà cửa; nếu xét cần thiết, Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh có thể chỉ định thêm đại biểu ngành khác vào Ban Định giá nhà đất. Khi làm việc, Ban Định giá nên lấy thêm ý kiến của một số người có nhà đất để định giá được sát.

Điều 11. Mỗi năm định giá nhà đất và giá cho thuê nhà đất một lần. Kết quả việc tính giá nhà đất phải được Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh duyệt y và Bộ Tài chính thông qua trước khi công bố.

Mục IV: KHAI BÁO VÀ NỘP THUẾ

Điều 12. – Trong thời hạn một tháng sau khi có thông báo về việc định giá nhà đất của Ủy ban Hành chính thành phố hay tỉnh, người nộp thuế phải khai báo (theo mẫu của Sở Thuế Trung ương) cho cơ quan thuế vụ địa phương biết rõ nơi có nhà đất, hiện trạng nhà cửa, số gian và diện tích, v.v... Nếu người có nhà thay đổi địa chỉ, chuyển nhượng cho người khác, làm thêm hoặc sửa sang lại làm thay đổi giá nhà đất thì trong hạn 10 ngày sau khi làm xong các việc trên, phải khai báo cho cơ quan thuế vụ địa phương.

Đối với nhà đất được miễn thuế, cũng phải khai báo theo thủ tục trên.

Điều 13. Hàng năm, căn cứ vào kết quả việc định giá nhà đất căn cứ vào khai báo của người nộp thuế và sau khi đã kiểm tra lại, cơ quan thuế vụ lập sổ thuế, gửi thông báo cho người nộp thuế.

Điều 14. Người nộp thuế có quyền khiếu nại lên Ủy ban Hành chính tỉnh hay thành phố nếu nhận thấy số thuế định cho mình không đúng, nhưng trong khi chờ đợi giải quyết, vẫn phải nộp đủ số thuế trong thời hạn đã quy định. Khi xét xong, nếu số thuế đã nộp quá số phải nộp thì số nộp quá sẽ được trả lại.

Mục V: THƯỞNG PHẠT

Điều 15. Người nộp thuế không khai báo đúng kỳ hạn theo như điều 12 sẽ bị phạt một số tiền bằng từ 20% trị giá nhà đất trở xuống, nhưng tối đa không quá 1.000.000 đ.

Điều 16. Người chịu thuế mà man khai lậu thuế thì ngoài việc phải nộp đủ số thuế, còn phải phạt một số tiền có thể lên tới 5 lần số thuế định gian lậu.

Điều 17. Người nộp thuế không đúng hạn, sẽ phải nộp thêm mỗi ngày quá hạn 1% số thuế nộp chậm.

Điều 18. Người nào cố tình dây dưa thuế, chống thuế có thể bị truy tố trước tòa án.

Điều 19. Những người đã tố giác và giúp đỡ cơ quan Thuế vụ tìm ra những vụ gian lậu sẽ được thưởng một số tiền từ 20% đến 30% số tiền phạt.

Mục VI: ĐIỀU KHOẢN PHỤ

Điều 20. Chi tiết thi hành điều lệ này do Bộ Tài chính quy định và Bộ Tài chính được ủy quyền giải thích điều lệ này.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 661-TTg năm 1956 về bản điều lệ tạm thời về thuế thổ trạch do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành.

Số hiệu: 661-TTg
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 12/01/1956
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 31/01/1956
Số công báo: Số 1
Ngày hiệu lực: 27/01/1956
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 661-TTg năm 1956 về bản điều lệ tạm...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký