Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 75-CP được ban hành năm 1967 bởi Hội đồng Chính phủ quy định về quản lý tiền mặt nhằm quản lý chặt chẽ cả hai mặt thu và chi, tập trung tiền mặt cao độ vào Ngân hàng Nhà nước, ra sức giảm chi và triệt để thực hành tiết kiệm, điều hòa lưu thông tiền tệ, góp phần xây dựng thế cân đối vững chắc về tài chính, tiền tệ, vật tư, đồng thời thúc đẩy các đơn vị kinh doanh nâng cao trình độ hạch toán kinh tế.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với tất cả các cơ quan của Nhà nước, các đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh, và các hợp tác xã (gọi chung là cơ quan, đơn vị) trên toàn lãnh thổ. Tất cả các đối tượng này đều chịu sự quản lý tiền mặt trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước.

Nguyên tắc mở tài khoản và thanh toán chuyển khoản

  • Tất cả các tổ chức chịu sự quản lý tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước bắt buộc phải mở tài khoản tại ngân hàng.
  • Mọi giao dịch thanh toán giữa các tổ chức có tài khoản tại ngân hàng đều phải thực hiện bằng phương thức chuyển khoản.
  • Ngoại lệ thanh toán bằng tiền mặt chỉ được áp dụng đối với các khoản chi nhỏ dưới 50 đồng, dưới 100 đồng hoặc dưới 150 đồng theo quy định cụ thể của Ngân hàng Nhà nước cho từng loại chi tiêu.
  • Tiền trong tài khoản hoặc tiền mặt của cơ quan, đơn vị chỉ được trích hoặc sử dụng để thanh toán cho các khoản chi tiêu công vụ của chính cơ quan, đơn vị đó.
  • Nghiêm cấm việc sử dụng tài khoản hoặc tiền mặt của cơ quan, đơn vị để thanh toán cho các khoản mua sắm hàng tiêu dùng cá nhân của công nhân, viên chức, bộ đội do các tổ chức công đoàn hoặc tập thể khác đại diện mua (các khoản này phải được thanh toán bằng tiền mặt do cá nhân tự đóng góp).

Quy định về giao dịch tiền mặt và quản lý thu chi hàng ngày

  • Trong giao dịch với cá nhân hoặc tổ chức không có tài khoản tại ngân hàng, các cơ quan, đơn vị được phép thanh toán bằng tiền mặt. Tuy nhiên, ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ và có quyền từ chối xuất tiền đối với các khoản chi không đúng chế độ hoặc không đúng giá chỉ đạo của Nhà nước.
  • Các cơ quan, đơn vị có nghĩa vụ nộp toàn bộ số tiền mặt thu được hàng ngày vào ngân hàng sau mỗi buổi hoặc mỗi ngày làm việc.
  • Các đơn vị chỉ được phép giữ lại quỹ (tồn quỹ) một lượng tiền mặt nhỏ để chi tiêu các khoản phát sinh nhỏ theo định mức do ngân hàng ấn định. Mọi khoản chi tiền mặt khác đều phải thực hiện rút từ ngân hàng và tiền lĩnh để chi cho khoản nào phải được chi đúng cho khoản ấy.
  • Đối với các cơ quan, đơn vị gặp khó khăn do điều kiện địa lý hoặc tính chất hoạt động đặc thù, có thể đề nghị ngân hàng địa phương cho phép áp dụng lịch nộp và lĩnh tiền riêng thích hợp.
  • Các tổ chức kinh tế có hoạt động thu chi tiền mặt hàng ngày có thể được phép sử dụng một phần tiền mặt thu vào để chi trực tiếp (tọa chi) dưới sự thỏa thuận và đồng ý của ngân hàng địa phương.

Công tác lập kế hoạch thu chi và kiểm tra quỹ tiền mặt

  • Hàng tháng và hàng quý, các cơ quan, đơn vị phải lập kế hoạch thu chi tiền mặt gửi cho ngân hàng trước ngày đầu tháng hoặc đầu quý ít nhất 5 ngày, đồng thời báo cáo số dư tồn quỹ vào ngày cuối cùng của mỗi tháng.
  • Ngân hàng Nhà nước các cấp có trách nhiệm lập kế hoạch tiền mặt định kỳ. Hàng quý, Ngân hàng Trung ương phải trình kế hoạch tiền mặt để Thủ tướng Chính phủ xét duyệt, làm căn cứ điều chỉnh chỉ tiêu tiền mặt của các địa phương và các ngành.
  • Mỗi tháng, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy cơ sở, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải phối hợp với tổ chức công đoàn tiến hành kiểm tra quỹ tiền mặt, các khoản thu chi và tạm ứng bằng tiền mặt nhằm chống thất thu, tăng thu, giảm chi và ngăn ngừa vi phạm.
  • Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thu và phát triển tiền mặt kịp thời theo kế hoạch, không gây trở ngại cho hoạt động của các ngành, đồng thời kiểm tra việc sử dụng tiền mặt của các đơn vị.
  • Việc kiểm tra tiền mặt tại các công trường xây dựng cơ bản và các đơn vị lực lượng vũ trang sẽ do Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an để quy định cụ thể.

Chế tài xử lý vi phạm và tổ chức thực hiện

  • Mọi tổ chức hoặc cá nhân vi phạm các quy định về quản lý tiền mặt, tùy theo mức độ vi phạm, sẽ bị xử lý bằng hình thức phê bình, kỷ luật hành chính, bồi thường thiệt hại hoặc bị truy tố trước pháp luật đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng.
  • Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành chế độ quản lý tiền mặt này dựa trên nghị định và các quy định tăng cường quản lý kinh tế tài chính của Chính phủ.
  • Các ngành ở trung ương và Ủy ban hành chính địa phương có nhiệm vụ lãnh đạo, đôn đốc các cơ quan, đơn vị thuộc quyền chấp hành nghiêm chỉnh nghị định này.

Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 6 năm 1967 và thay thế hoàn toàn cho Nghị định số 15-CP ngày 31 tháng 5 năm 1960.

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 75-CP

Hà Nội, ngày 09 tháng 06 năm 1967

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ TIỀN MẶT

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Theo đề nghị của ông Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước.
Căn cứ nghị quyết của Hội nghị thường vụ Hội đồng Chính phủ.
Để tăng cường công tác quản lý tiền mặt.

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. – Nghị định này quy định những nguyên tắc về quản lý tiền mặt nhằm quản lý chặt chẽ cả hai mặt thu và chi, tập trung tiền mặt cao độ vào ngân hàng Nhà nước, ra sức giảm chi và triệt để thực hành tiết kiệm, điều hòa lưu thông tiền tệ, góp phần xây dựng thế cân đối vững chắc về tài chính, tiền tệ, vật tư, phát huy tác dụng kiểm soát bằng đồng tiền của ngân hàng Nhà nước, thúc đẩy các đơn vị kinh doanh nâng cao trình độ hạch toán kinh tế, đồng thời đơn giản hóa các thủ tục, làm cho việc chi tiêu, thanh toán của các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế được nhanh chóng và thuận tiện, tạo điều kiện hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước.

Điều 2. - Việc quản lý tiền mặt do ngân hàng Nhà nước phụ trách theo những quy định của nghị định này.

Điều 3. - Tất cả các cơ quan của Nhà nước, của các đoàn thể, các đơn vị lực lượng vũ trang, các tổ chức kinh tế quốc doanh, công tư hợp doanh, các hợp tác xã (dưới đây gọi tắt là cơ quan, đơn vị) đều phải chịu sự quản lý tiền mặt của ngân hàng Nhà nước.

Điều 4. - Tất cả các tổ chức chịu sự quản lý tiền mặt của ngân hàng Nhà nước đều phải mở tài khoản tại ngân hàng, mọi sự giao dịch giữa các tổ chức có tài khoản tại ngân hàng đều phải thanh toán bằng chuyển khoản, trừ những món chi dưới 50đ, dưới 100đ hoặc dưới 150đ được trả bằng tiền mặt do ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể theo từng loại chi tiêu.

Chỉ được trích tiền trong tài khoản hoặc dùng tiền mặt của cơ quan, đơn vị để thanh toán những món chi tiêu cho việc công của cơ quan, đơn vị. Còn việc các tổ chức công đoàn hoặc tổ chức tập thể khác của công nhân, viên chức, bộ đội mua hàng tiêu dùng cho cá nhân công nhân, viên chức, bộ đội thì phải trả bằng tiền mặt do công nhân, viên chức, bộ đội góp lại, không được dùng tài khoản hoặc tiền mặt của cơ quan, đơn vị để thanh toán những món chi này.

Điều 5. – Trong việc giao dịch với những cá nhân hoặc tổ chức không có tài khoản ở ngân hàng thì các cơ quan, đơn vị có thể trả bằng tiền mặt, nhưng ngân hàng phải kiểm soát chặt chẽ những món chi này và phải từ chối xuất tiền cho những món chi không đúng chế độ hoặc không theo giá chỉ đạo của Nhà nước.

Điều 6. – Các cơ quan, đơn vị phải nộp hết số thu hàng ngày bằng tiền mặt vào ngân hàng sau mỗi buổi hoặc mỗi ngày và chỉ được giữ tại quỹ (tồn quỹ) một số tiền mặt để trả những khoản chi nhỏ do ngân hàng ấn định. Tất cả các khoản chi khác bằng tiền mặt đều phải lĩnh ở ngân hàng.

Những cơ quan, đơn vị, do điều kiện địa dư hoặc tính chất hoạt động riêng, gặp khó khăn trong việc chấp hành theo đúng quy định trên đây, có thể đề nghị với ngân hàng địa phương cho nộp và lĩnh tiền theo một lịch riêng thích hợp. Đặc biệt những tổ chức kinh tế hàng ngày có thu và chi tiền mặt có thể được sử dụng một phần tiền mặt thu vào để chi ra (tọa chi) theo sự thỏa thuận của ngân hàng địa phương.

Điều 7. - Tiền lĩnh để chi cho khoản nào phải được chi đúng cho khoản ấy.

Điều 8. – Hàng tháng, hàng quý, các cơ quan, đơn vị phải lập kế hoạch thu chi tiền mặt và gửi tới ngân hàng 5 ngày trước ngày đầu mỗi tháng và mỗi quý, và báo cáo cho ngân hàng số tiền còn trong quỹ ngày cuối cùng mỗi tháng.

Các cấp ngân hàng đều phải lập kế hoạch tiền mặt hàng tháng và hàng quý. Hàng quý ngân hàng trung ương phải trình kế hoạch tiền mặt để Thủ tướng Chính phủ xét duyệt, ngân hàng trung ương sẽ dựa vào chỉ tiêu được duyệt mà điều chỉnh kế hoạch tiền mặt của các địa phương và các ngành.

Điều 9. - Mỗi tháng, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy cơ sở, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, phải phối hợp với tổ chức công đoàn tiến hành kiểm tra quỹ tiền mặt và các khoản thu chi, tạm ứng bằng tiền mặt của cơ quan, đơn vị, và qua đó đề ra những biện pháp cần thiết chẳng những để chống thất thu mà còn phải có ý thức đầy đủ để tăng thu và giảm chi, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những việc vi phạm chế độ quản lý tiền mặt của Nhà nước.

Điều 10. – Các cấp ngân hàng có trách nhiệm tổ chức thu và phát triển tiền mặt kịp thời theo kế hoạch và lịch đã quy định, không làm trở ngại cho hoạt động của các ngành, đồng thời kiểm tra việc sử dụng tiền mặt của các cơ quan, đơn vị.

Việc kiểm tra tiền mặt ở các công trường xây dựng cơ bản, các đơn vị lực lượng vũ trang do Ngân hàng Nhà nước thỏa thuận với các Bộ Tài chính, Quốc phòng và Công an để quy định.

Điều 11. - Tổ chức hay cá nhân nào làm trái những quy định trên đây, vi phạm thể lệ quản lý tiền mặt, tùy trường hợp, sẽ bị phê bình, thi hành kỷ luật về hành chính, bồi thường thiệt hại, những hành động vi phạm nghiêm trọng sẽ bị truy tố trước pháp luật.

Điều 12. - Nghị định này thay thế Nghị định số 15-CP ngày 31 tháng 5 năm 1960 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 6 năm 1967.

Điều 13. – Ông Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước, căn cứ nghị định này và các quy định của Chính phủ về tăng cường quản lý kinh tế tài chính, ra thông tư hướng dẫn thi hành chế độ quản lý tiền mặt này.

Các ngành ở trung ương, các Ủy ban hành chính địa phương có nhiệm vụ lãnh đạo và đôn đốc các cơ quan, đơn vị thuộc quyền, chấp hành nghiêm chỉnh nghị định này theo sự hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 75-CP năm 1967 quy định về quản lý tiền mặt do Hội đồng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 75-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 09/06/1967
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 30/06/1967
Số công báo: Số 8
Ngày hiệu lực: 15/06/1967
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Tiền tệ - Ngân hàng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 75-CP năm 1967 quy định về quản lý...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký