Nghị định 77/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Nghị định này tập trung giải quyết việc đăng ký kết hôn cho các trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế qua các thời kỳ lịch sử nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định quy định chi tiết về việc đăng ký kết hôn đối với hai nhóm đối tượng cụ thể sau:
- Các trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật) mà chưa đăng ký kết hôn.
- Các trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật) mà chưa đăng ký kết hôn.
- Quy định này áp dụng cho cả các trường hợp đặc biệt bao gồm: giữa công dân Việt Nam với công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam; hoặc cả hai bên kết hôn đều là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam.
Chính sách khuyến khích và nghĩa vụ đăng ký kết hôn
- Đối với quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987: Nhà nước khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các bên thực hiện đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn đối với nhóm đối tượng này không bị hạn chế về mặt thời gian.
- Đối với trường hợp chung sống như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001: Nếu có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì các bên có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn. Sau ngày 01 tháng 01 năm 2003, nếu họ vẫn không đăng ký kết hôn thì pháp luật sẽ không công nhận họ là vợ chồng.
Thời điểm công nhận quan hệ hôn nhân có hiệu lực
Quan hệ hôn nhân của những người đăng ký kết hôn theo Nghị định này được pháp luật công nhận kể từ ngày các bên thực tế xác lập quan hệ vợ chồng hoặc bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng. Ngày công nhận hôn nhân có hiệu lực phải được ghi nhận rõ ràng, cụ thể trong Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
Chính sách miễn lệ phí đăng ký kết hôn
Nhằm tạo điều kiện tối đa và khuyến khích người dân hợp pháp hóa quan hệ hôn nhân thực tế, Nhà nước quy định miễn toàn bộ lệ phí đăng ký kết hôn đối với tất cả các trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.
Thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn
- Thẩm quyền giải quyết: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong hai bên thực hiện việc đăng ký kết hôn. Trường hợp cả hai bên không có hộ khẩu thường trú nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn, UBND cấp xã nơi một trong hai bên tạm trú sẽ thực hiện việc đăng ký.
- Thủ tục thực hiện: Các bên chỉ cần nộp Tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế. Trong Tờ khai, các bên tự ghi bổ sung ngày, tháng, năm xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống thực tế.
- Nguyên tắc xác định thời điểm chung sống: Trường hợp vợ chồng không cùng xác định được ngày, tháng cụ thể thì cách tính như sau: Nếu xác định được tháng mà không rõ ngày thì lấy ngày 01 của tháng tiếp theo; nếu chỉ xác định được năm mà không rõ ngày, tháng thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo.
Giải quyết đăng ký kết hôn đối với quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03/01/1987
- Trường hợp hai vợ chồng cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký: UBND cấp xã thực hiện đăng ký kết hôn ngay sau khi nhận được Tờ khai.
- Trường hợp một bên không thường trú hoặc tạm trú tại nơi đăng ký nhưng UBND biết rõ về tình trạng hôn nhân của họ: Giải quyết đăng ký ngay.
- Trường hợp có tình tiết chưa rõ ràng về việc vi phạm chế độ một vợ một chồng: UBND yêu cầu các bên làm giấy cam đoan và phải có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính chính xác của lời chứng.
Giải quyết đăng ký kết hôn đối với trường hợp chung sống từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001
- Yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân: Nếu một trong hai bên không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú tại nơi đăng ký, Tờ khai phải được cơ quan, đơn vị nơi công tác (đối với cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang) hoặc UBND cấp xã nơi cư trú xác nhận về tình trạng hôn nhân. Nếu cả hai cùng cư trú tại nơi đăng ký thì không cần xác nhận này.
- Kiểm tra điều kiện kết hôn: Sau khi nhận Tờ khai, UBND tiến hành kiểm tra điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để thực hiện đăng ký ngay. Nếu có nghi vấn, yêu cầu các bên làm giấy cam đoan có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng.
Địa điểm đăng ký kết hôn linh hoạt
Để tạo sự thuận tiện tối đa cho người dân, việc đăng ký kết hôn không nhất thiết phải thực hiện tại trụ sở UBND cấp xã mà có thể được tổ chức lưu động tại thôn, bản, tổ dân phố theo kế hoạch chủ động của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Quy định về việc công nhận con chung
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn của các trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này và được cha mẹ thừa nhận thì được công nhận là con chung của vợ chồng.
- Trường hợp trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của con vẫn đang bỏ trống phần ghi về người cha: UBND cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ để ghi bổ sung thông tin người cha, đồng thời thực hiện gạch bỏ phần ghi chú "con ngoài giá thú" trong Sổ đăng ký khai sinh.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước
- Bộ Tư pháp: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc triển khai thực hiện đồng bộ Nghị định này trên phạm vi cả nước.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện: Trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra sát sao UBND cấp xã thực hiện nghiêm túc các quy định.
- Ủy ban nhân dân cấp xã: Có trách nhiệm chủ động tuyên truyền, vận động, rà soát, lập danh sách các đối tượng cần đăng ký kết hôn; tổ chức đăng ký kịp thời, thuận tiện; xác nhận tình trạng hôn nhân chính xác khi có yêu cầu và bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước cho hoạt động này.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 77/2001/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 77/2001/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2001 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình ngày 09 tháng 6 năm 2000;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;
Để tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tiến tới xoá bỏ tình trạng hôn nhân không đăng ký, khuyến khích xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
1. Nghị định này quy định chi tiết về đăng ký kết hôn đối với:
a) Các trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật, mà chưa đăng ký kết hôn;
2. Quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả các trường hợp giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam đã sinh sống ổn định, lâu dài tại Việt Nam; các trường hợp giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam hoặc cả hai bên đều là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam.
Người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam nói tại khoản này là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không được các nước khác thừa nhận có quốc tịch nước đó, đang làm ăn và sinh sống ổn định, lâu dài ở Việt Nam.
Điều 2. Khuyến khích đăng ký kết hôn và nghĩa vụ đăng ký kết hôn
1. Những trường hợp quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, mà chưa đăng ký kết hôn, thì được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận tiện cho đăng ký kết hôn. Việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp này không bị hạn chế về thời gian.
2. Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
Điều 3. Công nhận ngày hôn nhân có hiệu lực
Quan hệ hôn nhân của những người đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị định này, được công nhận kể từ ngày các bên xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Ngày công nhận hôn nhân có hiệu lực phải được ghi rõ trong Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng nhận kết hôn theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.
Điều 4. Miễn lệ phí đăng ký kết hôn
Việc đăng ký kết hôn đối với các trường hợp quy định tại Nghị định này được miễn lệ phí.
Điều 5. Thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn
1. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã), nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong hai bên, thực hiện việc đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp cả hai bên không có hộ khẩu thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ khẩu, thì ủy ban nhân dân cấp xã, nơi một trong hai bên đăng ký tạm trú có thời hạn, thực hiện việc đăng ký kết hôn.
Trong Tờ khai đăng ký kết hôn, các bên ghi bổ sung ngày, tháng, năm xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế. Trong trường hợp vợ chồng không cùng xác định được ngày, tháng xác lập quan hệ vợ chồng hoặc chung sống với nhau như vợ chồng trên thực tế, thì cách tính ngày, tháng như sau:
Nếu xác định được tháng mà không xác định được ngày, thì lấy ngày 01 của tháng tiếp theo;
Nếu xác định được năm mà không xác định được ngày, tháng, thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm tiếp theo.
Trong trường hợp hai vợ chồng cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì Uỷ ban nhân dân thực hiện việc đăng ký kết hôn ngay sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn.
Trong trường hợp một trong hai bên không thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, nhưng Uỷ ban nhân dân biết rõ về tình trạng hôn nhân của họ, thì cũng giải quyết đăng ký kết hôn ngay. Khi có tình tiết chưa rõ các bên có vi phạm quan hệ hôn nhân một vợ, một chồng hay không, thì Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy cam đoan và có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của lời chứng.
Trong trường hợp một trong hai bên kết hôn không có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì Tờ khai đăng ký kết hôn phải được cơ quan, đơn vị nơi đang công tác (đối với cán bộ, công chức, người đang phục vụ trong lực lượng vũ trang) hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú có thời hạn xác nhận về tình trạng hôn nhân của người đó. Nếu cả hai bên cùng thường trú hoặc tạm trú có thời hạn tại nơi đăng ký kết hôn, thì không cần sự xác nhận nói trên.
Sau khi nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, Uỷ ban nhân dân kiểm tra, nếu các bên đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thì đăng ký kết hôn ngay. Khi có tình tiết chưa rõ là một trong hai bên hoặc cả hai bên có đủ điều kiện kết hôn hay không, thì Uỷ ban nhân dân yêu cầu họ làm giấy cam đoan và có xác nhận của ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan đó. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của lời chứng.
Điều 8. Địa điểm đăng ký kết hôn
Để tạo điều kiện thuận tiện cho các bên kết hôn, việc đăng ký kết hôn có thể được thực hiện tại trụ sở Uỷ ban nhân dân hoặc tại thôn, bản, tổ dân phố theo kế hoạch của Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Điều 9. Công nhận con chung của vợ chồng
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn của các trường hợp quy định tại
Nếu trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con vẫn bỏ trống phần ghi về người cha, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ để ghi bổ sung về người cha vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con, đồng thời gạch bỏ phần ghi chú "con ngoài giá thú" trong Sổ đăng ký khai sinh.
Điều 10. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện Nghị định này.
Điều 11. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp
1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc triển khai thực hiện Nghị định này.
2. Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm:
a) Tuyên truyền, vận động, rà soát, lập danh sách các trường hợp cần đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị định này;
b) Tổ chức đăng ký kết hôn kịp thời, thuận tiện, chính xác cho những trường hợp quy định tại Nghị định này;
c) Xác nhận chính xác, kịp thời về tình trạng hôn nhân của các bên kết hôn, nếu được yêu cầu;
d) Bảo đảm cân đối kinh phí từ ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành cho hoạt động đăng ký kết hôn nói tại Nghị định này.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Nguyễn Tấn Dũng (Đã ký) |
- 1 Thông tư liên bộ quy định chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký kết hôn, công nhận việc kết hôn, nhận con ngoài giá thú, đăng ký nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư liên bộ 33-TT/LB năm 1995 về chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký kết hôn, công nhận việc kết hôn, nhận con ngoài giá thú, đăng ký nuôi con nuôi và công nhận việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài do Bộ Tài Chính - Bộ Tư Pháp ban hành
- 3 Nghị định 32/2002/NĐ-CP về việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số
- 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch
- 1 Nghị định 06/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực
- 2 Văn bản hợp nhất 8016/VBHN-BTP năm 2013 hợp nhất Nghị định hướng dẫn về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết 35/2000/QH10 về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình do Bộ Tư pháp ban hành
- 3 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2 Thông tư liên bộ quy định chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký kết hôn, công nhận việc kết hôn, nhận con ngoài giá thú, đăng ký nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Thông tư liên bộ 33-TT/LB năm 1995 về chế độ thu, nộp quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký kết hôn, công nhận việc kết hôn, nhận con ngoài giá thú, đăng ký nuôi con nuôi và công nhận việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài do Bộ Tài Chính - Bộ Tư Pháp ban hành
- 4 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000
- 5 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình
- 6 Thông tư 07/2001/TT-BTP hướng dẫn thi hành Nghị định 77/2001/NĐ-CP về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết 35/2000/QH10 do Bộ Tư pháp ban hành
- 7 Nghị định 32/2002/NĐ-CP về việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số