Năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 88-HĐBT về việc kiện toàn tổ chức của ngành văn hoá nhằm thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động văn hoá, nghệ thuật và thông tin trên phạm vi cả nước, đáp ứng nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định này áp dụng đối với Bộ Văn hoá, các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ, các cơ quan văn hoá và thông tin ở các cấp địa phương (tỉnh, huyện, xã), cùng các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, thông tin, xuất bản, điện ảnh trên toàn quốc.
Vị trí và chức năng của Bộ Văn hoá
- Bộ Văn hoá là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước đối với công tác văn hoá trong cả nước theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Mục tiêu hoạt động nhằm nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân; từng bước xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc; tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin; đấu tranh chống các biểu hiện văn hoá không lành mạnh và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại.
Nhiệm vụ và quyền hạn cốt lõi của Bộ Văn hoá
- Quản lý và quy hoạch ngành: Nghiên cứu phương hướng, xây dựng quy hoạch phát triển toàn ngành văn hoá (bao gồm văn hoá quần chúng, thư viện, bảo tồn bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, điện ảnh, xuất bản, báo chí, in, phát hành sách và tuyên truyền cổ động); hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tại các địa phương.
- Nghiên cứu và bảo tồn di sản: Sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến di sản văn hoá nghệ thuật của các dân tộc trong nước và thành tựu văn hoá thế giới; đẩy mạnh công tác lý luận và phê bình văn học, nghệ thuật.
- Chỉ đạo hoạt động nghiệp vụ: Tổ chức, chỉ đạo sáng tác, biểu diễn, xuất bản, phát hành tác phẩm văn hoá nghệ thuật; phát động phong trào văn hoá quần chúng rộng rãi.
- Thông tin, cổ động và triển lãm: Chỉ đạo công tác thông tin cổ động, triển lãm nhằm tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, biểu dương các thành tựu kinh tế - xã hội.
- Xây dựng thể chế pháp lý: Soạn thảo trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ bảo đảm hoạt động văn hoá đi đúng định hướng và bảo đảm quyền làm chủ tập thể về văn hoá của nhân dân.
- Đào tạo và quản lý cán bộ: Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành văn hoá, thông tin và lực lượng văn nghệ sĩ trẻ; quản lý toàn diện các đơn vị trực thuộc về tổ chức, biên chế, tài chính và tài sản.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Văn hoá
- Các đơn vị tham mưu, giúp việc (Vụ, Ban, Văn phòng): Văn phòng Bộ, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch, Vụ Tài chính - Kế toán, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Đào tạo, Ban thanh tra và pháp chế.
- Các Cục quản lý chuyên ngành, Viện nghiên cứu và Trường học: Cục Văn hoá quần chúng, Cục Thông tin - cổ động, Cục Triển lãm, Cục Điện ảnh (quản lý ngành kiêm hoạt động như một Liên hiệp các xí nghiệp điện ảnh toàn quốc), Cục Nghệ thuật sân khấu, Cục Âm nhạc và múa, Cục Mỹ thuật, Cục Thư viện, Cục Bảo tồn bảo tàng, Cục Xuất bản và báo chí; các Viện nghiên cứu (Viện Văn hoá, Viện Sân khấu, Viện Âm nhạc và múa, Viện Mỹ thuật, Viện tư liệu phim Việt Nam); Thư viện quốc gia; các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và các bảo tàng lớn (Cách mạng, Lịch sử, Mỹ thuật).
- Các đơn vị sự nghiệp có thu, doanh nghiệp và đoàn nghệ thuật: Liên hiệp các xí nghiệp in, Tổng công ty vật phẩm văn hoá, Công ty xuất nhập khẩu sách báo và văn hoá phẩm, Tổng công ty phát hành sách, các nhà xuất bản, các nhà hát, đoàn nghệ thuật, Công ty biểu diễn nghệ thuật Việt Nam, các cơ sở triển lãm và trại sáng tác.
- Các Hội đồng tư vấn trực thuộc Bộ: Hội đồng Bộ, các Hội đồng nghệ thuật chuyên ngành (sân khấu, nhạc, múa, mỹ thuật, điện ảnh), Hội đồng văn hoá quần chúng, Hội đồng quản trị quỹ văn hoá.
Hệ thống cơ quan văn hoá và thông tin ở địa phương
- Cấp tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương: Thiết lập Sở Văn hoá và thông tin.
- Cấp huyện, quận, thị xã: Thiết lập Phòng văn hoá và thông tin.
- Cấp xã, phường, thị trấn: Thiết lập Ban văn hoá và thông tin.
Điều khoản thi hành và hiệu lực pháp lý
- Bộ trưởng Bộ Văn hoá có trách nhiệm quy định chi tiết chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc; đồng thời hướng dẫn địa phương kiện toàn bộ máy văn hoá thông tin các cấp.
- Nghị định này chính thức bãi bỏ Nghị định số 96-CP ngày 28/4/1978 của Hội đồng Chính phủ cùng các văn bản trước đây về tổ chức ngành văn hoá, thông tin trái với quy định tại Nghị định này.
- Các chức danh chịu trách nhiệm thi hành bao gồm: Bộ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thủ trưởng các ngành liên quan và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 88-HĐBT | Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 1985 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 88-HĐBT NGÀY 27 THÁNG 3 NĂM 1985 VỀ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC CỦA NGÀNH VĂN HOÁ
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ Nghị quyết kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá VII đổi Bộ Văn hoá và Thông tin thành Bộ Văn hoá,
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 2.- Bộ Văn hoá có những nhiệm vụ chính thức như sau:
1. Nghiên cứu phương hướng xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá trong cả nước bao gồm các lĩnh vực văn hoá quần chúng, thư viện, bảo tồn bảo tàng, nghệ thuật sân khấu, ca, múa, nhạc, mỹ thuật, điện ảnh, xuất bản, báo chí, in, phát hành sách và công tác tuyên truyền cổ động; xây dựng quy hoạch phát triển ngành, hướng dẫn các địa phương xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch dài hạn, kế hoạch hàng năm về phát triển văn hoá và tổng hợp trình Chính phủ xét duyệt; đôn đốc và kiểm tra thực hiện những kế hoạch đó.
2. Sưu tầm, nghiên cứu và phổ biến những di sản văn hoá, nghệ thuật của các dân tộc anh em trong cả nước, và những thành tựu mới của các ngành văn hoá, nghệ thuật, những thành tựu văn hoá thế giới; đẩy mạnh công tác lý luận, phê bình văn hoá, nghệ thuật.
3. Tổ chức chỉ đạo sáng tác, biểu diễn, xuất bản, phát hành các tác phẩm văn hoá, nghệ thuật; đồng thời phát động quần chúng tham gia rộng rãi các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin, đáp ứng ngày càng cao các nhu cầu về văn hoá của nhân dân.
4. Tổ chức và chỉ đạo công tác thông tin cổ động và triển lãm nhằm phổ biến kịp thời chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước, tuyên truyền rộng rãi những thành tựu kinh tế - văn hoá, động viên quần chúng thực hiện tốt mọi chính sách của Đảng và Nhà nước.
5. Xây dựng và trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành những luật lệ, chính sách, chế độ bảo đảm các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin, cổ động đi đúng đường lối của Đảng và Nhà nước; bảo đảm quyền làm chủ tập thể về văn hoá của nhân dân; động viên nhân dân tham gia sáng tạo và hoạt động văn hoá, nghệ thuật và thông tin.
6. Tổ chức và chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của ngành văn hoá, thông tin, đào tạo, bồi dưỡng lực lượng văn nghệ sĩ trẻ.
7. Quản lý các đơn vị trực thuộc bộ về tổ chức, cán bộ, biên chế, tài sản, tài chính,v.v... theo chế độ chung của Nhà nước.
Điều 3.- Tổ chức bộ máy của Bộ Văn hoá gồm có:
Các vụ, ban:
- Văn phòng Bộ,
- Vụ Tổ chức cán bộ,
- Vụ Kế hoạch,
- Vụ Tài chính - Kế toán,
- Vụ Hợp tác quốc tế,
- Vụ Đào tạo,
- Ban thanh tra và pháp chế.
Các Cục, Viện, trường:
- Cục Văn hoá quần chúng,
- Cục Thông tin - cổ động,
- Cục Triển lãm,
- Cục Điện ảnh (quản lý ngành điện ảnh trong cả nước, đồng thời hoạt động theo phương thức của một Liên hiệp các xí nghiệp điện ảnh toàn quốc).
- Cục Nghệ thuật sân khấu,
- Cục Âm nhạc và múa,
- Cục Mỹ thuật, - Cục Thư viện,
- Cục Bảo tồn, bảo tàng,
- Cục Xuất bản và báo chí,
- Viện Văn hoá,
- Viện Sân khấu,
- Viện Âm nhạc và múa,
- Viện Mỹ thuật,
- Thư viện quốc gia,
- Viện tư liệu phim Việt Nam,
- Các trường đại, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp,
- Các bảo tàng Cách mạng, bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng mỹ thuật.
Các xí nghiệp, công ty, nhà xuất bản, nhà hát và đoàn nghệ thuật:
- Liên hiệp các xí nghiệp in,
- Tổng công ty vật phẩm văn hoá,
- Công ty xuất nhập khẩu sách báo và văn hoá phẩm,
- Tổng công ty phát hành sách,
- Các nhà xuất bản,
- Các nhà hát và đoàn nghệ thuật,
- Công ty biểu diễn nghệ thuật Việt Nam,
- Các cơ sở triển lãm trại sáng tác.
Các Hội đồng thuộc Bộ:
- Hội đồng Bộ,
- Các Hội đồng nghệ thuật (sân khấu, nhạc, múa, mỹ thuật, điện ảnh),
- Hội đồng văn hoá quần chúng,
- Hôi đồng quản trị quỹ văn hoá.
Điều 4.- Tổ chức bộ máy các cơ quan văn hoá và thông tin địa phương gồm có:
- Sở Văn hoá và thông tin tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương,
- Phòng văn hoá và thông tin huyện, quận, thị xã,
- Ban văn hoá và thông tin xã, phường, thị trấn.
Bãi bỏ Nghị định số 96-CP ngày 28-4-1978 của Hội đồng Chính phủ và các văn bản trước đây về tổ chức của ngành văn hoá, thông tin, trái với Nghị định này.
| Tố Hữu (Đã ký) |