Nghị định số 93/2002/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thỏa ước lao động tập thể. Văn bản này tập trung điều chỉnh các nội dung cốt lõi liên quan đến phạm vi áp dụng, quy trình đăng ký thỏa ước, phương án xử lý khi thỏa ước bị tuyên bố vô hiệu và hiệu lực của thỏa ước khi doanh nghiệp thay đổi cơ cấu tổ chức.
Phạm vi và đối tượng áp dụng thỏa ước lao động tập thể
Nghị định quy định thỏa ước lao động tập thể áp dụng đối với các doanh nghiệp, tổ chức có tổ chức công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời, bao gồm các đối tượng cụ thể sau:
- Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc các đơn vị hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, hoặc tổ chức chính trị - xã hội.
- Hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.
- Các cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao được thành lập theo quy định về chính sách khuyến khích xã hội hóa.
- Các cơ quan, tổ chức quốc tế hoặc nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam theo hình thức hợp đồng lao động, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Quy định về việc đăng ký thỏa ước lao động tập thể
Thủ tục đăng ký thỏa ước lao động tập thể được thực hiện theo quy định mới nhằm tối ưu hóa quy trình quản lý:
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký kết thỏa ước lao động tập thể, người sử dụng lao động có trách nhiệm gửi bản thỏa ước đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc tổ chức để tiến hành đăng ký.
- Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong khu chế xuất, khu công nghiệp, hoặc khu công nghệ cao, việc đăng ký thỏa ước lao động tập thể được thực hiện tại Ban Quản lý khu công nghiệp theo ủy quyền của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi Ban Quản lý đó đặt trụ sở chính.
Giải quyết quyền lợi khi thỏa ước lao động tập thể bị tuyên bố vô hiệu
Nghị định bổ sung quy định giải quyết quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong trường hợp thỏa ước lao động tập thể bị tuyên bố vô hiệu:
- Đối với những nội dung bị tuyên bố vô hiệu, quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên sẽ được giải quyết theo các quy định tương ứng của pháp luật hiện hành.
- Đồng thời, các bên có thể căn cứ vào các thỏa thuận hợp pháp đã được xác lập trong hợp đồng lao động cá nhân (nếu có) để giải quyết quyền lợi.
Hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể khi tổ chức lại doanh nghiệp
Quy định về tính liên tục và hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể khi doanh nghiệp thực hiện sáp nhập, hợp nhất, chia, tách hoặc chuyển quyền sở hữu được phân chia thành hai trường hợp:
- Trường hợp sáp nhập doanh nghiệp: Thỏa ước lao động tập thể cũ tiếp tục có hiệu lực nếu doanh nghiệp nhận sáp nhập tiếp tục sử dụng trên 50% tổng số lao động sau khi sáp nhập.
- Các trường hợp tổ chức lại khác: Đối với các trường hợp hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hoặc sáp nhập doanh nghiệp không thuộc trường hợp nêu trên, hai bên phải tiến hành thương lượng để ký kết thỏa ước lao động tập thể mới trong thời hạn 6 tháng.
Thay đổi thuật ngữ pháp lý
Nghị định thực hiện chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý bằng cách thay thế cụm từ "tổ chức công đoàn lâm thời" bằng cụm từ "Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời" trong các quy định liên quan.
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2003. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Giám đốc các doanh nghiệp, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 93/2002/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2002 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP ngày 31 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thỏa ước lao động tập thể căn cứ theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động (sau đây gọi chung là Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung) như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung
''Điều 1.
1. Đối tượng và phạm vi áp dụng thỏa ước lao động tập thể là các doanh nghiệp, tổ chức có tổ chức công đoàn cơ sở hoặc Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời, bao gồm:
a) Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
b) Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các đơn vị hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội;
c) Hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động;
d) Các cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao ngoài công lập thành lập theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa;
đ) Các cơ quan, tổ chức quốc tế hoặc nước ngoài đóng trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động hợp đồng là người Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác."
2. Sửa đổi
Thay cụm từ ''tổ chức công đoàn lâm thời'' bằng cụm từ ''Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời''.
3. Sửa đổi, bổ sung
''Điều 5. Việc đăng ký thoả ước lao động tập thể theo Điều 47 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung được quy định như sau:
4. Bổ sung
''Điều 5a. Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên ghi trong thoả ước lao động tập thể bị tuyên bố vô hiệu quy định tại khoản 3 Điều 48 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung được giải quyết như sau: những nội dung nào bị tuyên bố vô hiệu thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên được giải quyết theo các nội dung tương ứng quy định trong pháp luật hiện hành và theo các thỏa thuận hợp pháp trong các hợp đồng cá nhân (nếu có)."
5. Sửa đổi, bổ sung
''Điều 6. Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung được quy định như sau:
1. Thoả ước lao động tập thể tiếp tục có hiệu lực đối với trường hợp sáp nhập doanh nghiệp, mà doanh nghiệp nhận sáp nhập có số lao động được tiếp tục sử dụng chiếm trên 50% tổng số lao động sau khi sáp nhập.
2. Các trường hợp hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp và sáp nhập doanh nghiệp không theo quy định tại khoản 1 Điều này thì hai bên phải tiến hành thương lượng để ký kết thỏa ước lao động tập thể mới trong thời hạn 6 tháng."
Điều 2. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2003.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Bộ luật Lao động 1994
- 2 Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995
- 3 Luật hợp tác xã 1996
- 4 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996
- 5 Luật Doanh nghiệp 1999
- 6 Nghị định 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao
- 7 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 8 Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002
- 9 Công văn 4388/LĐTBXH-CSLĐVL Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc đăng ký thoả ước lao động tập thể