Nghị định số 95/2011/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm siết chặt kỷ cương trong quản lý ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng, tăng cường mức chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngoại hối và kinh doanh vàng trên lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, văn bản quy định rõ thẩm quyền xử phạt của các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng công an, quản lý thị trường và thanh tra chuyên ngành ngân hàng.
Mức xử phạt tiền đối với các hành vi vi phạm về ngoại hối và vàng
Nghị định đã điều chỉnh tăng mạnh khung phạt tiền đối với các hành vi vi phạm nhằm nâng cao tính răn đe:
- Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với các hành vi: Cho vay, cho thuê tài chính hoặc thanh toán nợ trong nước bằng ngoại tệ không đúng quy định; chuyển hoặc mang ngoại tệ ra nước ngoài và vào Việt Nam trái phép (trừ các trường hợp đặc biệt); thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ với người nước ngoài trái quy định; mua, bán, thanh toán ngoại tệ trái phép; thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng vàng hoặc kinh doanh, mua, bán vàng không đúng quy định của pháp luật.
- Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với các hành vi: Hoạt động ngoại hối khi chưa được cấp phép, giấy phép hết hạn hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ; thực hiện dịch vụ kiều hối không có giấy phép; xuất khẩu, nhập khẩu ngoại tệ hoặc vàng không có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước; niêm yết giá, quảng cáo hàng hóa, dịch vụ, quyền sử dụng đất bằng ngoại tệ hoặc vàng trái quy định pháp luật.
Các hình thức xử phạt bổ sung nghiêm khắc
Bên cạnh hình thức phạt tiền, các tổ chức và cá nhân vi phạm còn phải chịu các chế tài bổ sung bao gồm:
- Tịch thu toàn bộ tang vật là ngoại tệ, đồng Việt Nam (VND) hoặc vàng đối với các hành vi mang ngoại tệ trái phép qua biên giới, mua bán ngoại tệ trái phép, thanh toán bằng vàng trái phép và kinh doanh vàng trái quy định.
- Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký Đại lý đổi ngoại tệ trong thời hạn 12 tháng đối với vi phạm lần đầu và tước không thời hạn nếu tái phạm đối với các đại lý có hành vi mua, bán, thanh toán ngoại tệ trái quy định.
- Tước Giấy phép hoạt động kinh doanh vàng trong thời hạn 12 tháng đối với vi phạm lần đầu và tước không thời hạn nếu tái phạm đối với các tổ chức kinh doanh vàng vi phạm quy định mua bán, kinh doanh vàng trái phép.
Quản lý và sử dụng tiền thu phạt vi phạm hành chính
Nghị định bổ sung Điều 18a quy định rõ toàn bộ số tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh vàng và ngoại tệ phải được nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước thông qua tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước. Việc quản lý, sử dụng số tiền này để hỗ trợ kinh phí cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử phạt được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 124/2005/NĐ-CP và các văn bản pháp luật hiện hành.
Phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định quy định chi tiết về thẩm quyền xử phạt của từng chức danh và cơ quan chức năng:
- Thanh tra viên Ngân hàng đang thi hành công vụ: Có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 500.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm có giá trị đến 2.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
- Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố: Có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 30.000.000 đồng; áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả; đề nghị Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố đình chỉ có thời hạn hoặc không thời hạn một số hoạt động nghiệp vụ liên quan đến vi phạm.
- Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền tối đa đến 500.000.000 đồng; áp dụng hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả; đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đình chỉ có thời hạn hoặc không thời hạn một số hoạt động nghiệp vụ liên quan đến vi phạm.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các Cục trưởng thuộc Bộ Công an: (Gồm Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh) có thẩm quyền ra quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm về quản lý ngoại hối và kinh doanh vàng, đồng thời phải thông báo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Cơ quan Quản lý thị trường: Khi phát hiện cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng vi phạm quy định về niêm yết giá, quảng cáo bằng ngoại tệ, vàng thì có trách nhiệm lập biên bản và chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử lý theo quy định.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 95/2011/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2011 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Pháp lệnh Ngoại hối ngày 13 tháng 12 năm 2005;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008;
Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
NGHỊ ĐỊNH
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung
“3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau:
a) Cho vay, cho thuê tài chính hoặc trả nợ trong nước bằng ngoại tệ không đúng quy định của pháp luật;
b) Chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài và vào Việt Nam không đúng quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này;
c) Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ với người nước ngoài không đúng quy định của pháp luật;
d) Mua, bán, thanh toán ngoại tệ không đúng quy định của pháp luật;
đ) Thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ bằng vàng với nhau không đúng quy định của pháp luật;
e) Kinh doanh, mua, bán vàng không đúng quy định của pháp luật.”
“5. Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau:
a) Hoạt động ngoại hối mà không được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép hoặc giấy phép hoạt động ngoại hối đã hết thời hạn hoặc bị đình chỉ;
b) Thực hiện dịch vụ kiều hối mà không được cấp có thẩm quyền cấp phép;
c) Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ngoại tệ, vàng mà không có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước;
d) Niêm yết giá, quảng cáo hàng hóa, dịch vụ, quyền sử dụng đất bằng ngoại tệ, vàng không đúng quy định của pháp luật.”
“7. Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật là số ngoại tệ, đồng Việt Nam (VND) hoặc vàng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b, điểm d, điểm đ, điểm e khoản 3 Điều này;
b) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký Đại lý đổi ngoại tệ trong thời hạn 12 tháng khi vi phạm lần đầu và tước không thời hạn khi tái phạm đối với các Đại lý đổi ngoại tệ vi phạm quy định tại điểm d khoản 3;
c) Tước Giấy phép hoạt động kinh doanh vàng trong thời hạn 12 tháng khi vi phạm lần đầu và tước không thời hạn khi tái phạm đối với các tổ chức kinh doanh vàng vi phạm quy định tại điểm e khoản 3 Điều này.”
2. Bãi bỏ
3. Bổ sung
“Điều 18a. Quản lý và sử dụng tiền thu phạt vi phạm hành chính
1. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh vàng và ngoại tệ phải nộp vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước.
2. Việc quản lý, sử dụng số tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh vàng và ngoại tệ để hỗ trợ kinh phí cho cơ quan, tổ chức thực hiện theo các quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 124/2005/NĐ-CP ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định về biên lai thu tiền phạt và quản lý, sử dụng tiền nộp phạt vi phạm hành chính và các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính.”
4. Sửa đổi, bổ sung
“Điều 37. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
1. Thanh tra viên Ngân hàng đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 500.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng;
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị định này.
2. Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Nghị định này;
d) Đề nghị Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đình chỉ có thời hạn hoặc không có thời hạn việc thực hiện một hoặc một số hoạt động nghiệp vụ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng.
3. Chánh Thanh tra, giám sát ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền tối đa đến 500.000.000 đồng;
c) Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Nghị định này;
d) Đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đình chỉ có thời hạn hoặc không có thời hạn việc thực hiện một hoặc một số hoạt động nghiệp vụ liên quan đến hành vi vi phạm hành chính theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy, Cục trưởng Cục Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh quy định tại Điều 30 và khoản 7, khoản 8 Điều 31 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, khi phát hiện cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm quy định về quản lý ngoại hối tại các điểm b, d, đ, e khoản 3, các điểm a, c, d, e, g khoản 4 và khoản 5 Điều 18 Nghị định này có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này, đồng thời phải thông báo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam biết.
5. Cơ quan Quản lý thị trường quy định tại Điều 37 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, khi phát hiện cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng có hành vi vi phạm quy định tại điểm d khoản 5 Điều 18 Nghị định này có trách nhiệm lập biên bản và chuyển cho các đối tượng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều này để xử lý theo quy định tại Nghị định này.”
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- 1 Nghị định 124/2005/NĐ-CP về biên lai thu tiền phạt và quản lý, sử dụng tiền nộp phạt vi phạm hành chính
- 2 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005
- 3 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 4 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
- 5 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008
- 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010
- 7 Luật các tổ chức tín dụng 2010