Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định thư thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được ký kết vào ngày 03 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định vận tải đường bộ giữa hai nước, thiết lập khuôn khổ pháp lý chi tiết cho hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng đường bộ qua lại giữa biên giới Việt Nam và Trung Quốc.

Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng

Nghị định thư này áp dụng đối với các hoạt động vận chuyển hành khách (bao gồm cả khách du lịch) và vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, định kỳ hoặc không định kỳ, giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về giao thông vận tải, các doanh nghiệp vận tải được cấp phép, người điều khiển phương tiện, nhân viên phục vụ, hành khách và các chủ hàng tham gia vào quá trình vận tải đường bộ quốc tế giữa hai quốc gia.

Cơ quan quản lý có thẩm quyền được chỉ định

Để triển khai thực hiện các quy định trong Nghị định thư, hai bên chỉ định các cơ quan quản lý có thẩm quyền cụ thể tại các địa phương biên giới:

  • Phía Việt Nam: Sở Giao thông vận tải các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu.
  • Phía Trung Quốc: Ty Giao thông Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và Ty Giao thông tỉnh Vân Nam.

Các cặp cửa khẩu được phép thông qua hoạt động vận tải

Trước mắt, hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng ô tô được thực hiện qua 6 cặp cửa khẩu biên giới sau:

  • Móng Cái (Việt Nam) – Đông Hưng (Trung Quốc).
  • Hữu Nghị (Việt Nam) – Hữu Nghị Quan (Trung Quốc).
  • Tà Lùng (Việt Nam) – Thủy Khẩu (Trung Quốc).
  • Thanh Thủy (Việt Nam) – Thiên Bảo (Trung Quốc).
  • Lào Cai (Việt Nam) – Hà Khẩu (Trung Quốc).
  • Ma Lu Thàng (Việt Nam) – Kim Thủy Hà (Trung Quốc).

Trong trường hợp cần mở rộng hoạt động vận tải qua các cặp cửa khẩu khác đã được Chính phủ hai nước cho phép mở, cơ quan chủ quản vận tải được ủy quyền của hai bên sẽ bàn bạc, báo cáo Bộ Giao thông vận tải và cơ quan hữu quan của nước mình phê chuẩn, sau đó xác nhận bằng văn bản trước khi thực hiện.

Quy định về tuyến đường và doanh nghiệp vận tải

  • Các tuyến đường vận tải hành khách và hàng hóa giữa hai nước phải được cơ quan quản lý có thẩm quyền của hai bên ký kết phê chuẩn, hoàn thiện các thủ tục cần thiết và thông báo cho Bộ Giao thông vận tải của nước mình trước khi chính thức vận hành.
  • Nhiệm vụ vận tải chỉ được giao cho các doanh nghiệp vận tải đã được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê chuẩn. Hai bên có trách nhiệm thông báo cho nhau danh sách các đơn vị vận tải, số đăng ký xe và trọng lượng thiết kế của các phương tiện được phép tham gia vận tải quốc tế.

Hệ thống giấy phép vận chuyển đường bộ quốc tế

Phương tiện vận tải qua lại biên giới bắt buộc phải có Giấy phép vận chuyển ô tô quốc tế do cơ quan có thẩm quyền cấp. Giấy phép được phân thành ba loại cụ thể:

  • Loại A (màu hồng): Dùng cho phương tiện vận chuyển hành khách (bao gồm cả khách du lịch) định kỳ, có thời hạn hiệu lực là 1 năm.
  • Loại B (màu lam nhạt): Dùng cho phương tiện vận chuyển hành khách không định kỳ và xe chở hành lý, có hiệu lực cho một lần đi và về.
  • Loại C (màu vàng nhạt): Dùng cho phương tiện vận chuyển hàng hóa, có hiệu lực cho một lần đi và về.

Giấy phép được in song ngữ (tiếng Việt và tiếng Trung). Hàng năm, cơ quan quản lý của hai bên sẽ căn cứ vào nhu cầu thực tế và nguyên tắc đối đẳng để thỏa thuận số lượng giấy phép trao đổi (mỗi năm trao đổi hai lần). Giấy phép chỉ có hiệu lực sau khi được cơ quan quản lý của hai bên đóng dấu và các ngành thực thi cụ thể tại cửa khẩu ký, đóng dấu xác nhận.

Phù hiệu đặc trưng và công tác kiểm tra tại cửa khẩu

  • Phương tiện vận tải của hai nước khi thực hiện nhiệm vụ phải dán phù hiệu vận chuyển quốc tế đặc trưng do Bộ Giao thông vận tải hai nước thiết kế. Phù hiệu của Việt Nam ký hiệu là VMT (Vietnam Motor Transportation) và của Trung Quốc là CMT (China Motor Transportation).
  • Cơ quan quản lý vận tải đặt tại cửa khẩu của hai bên chịu trách nhiệm kiểm tra giấy phép vận chuyển, phù hiệu đặc trưng và các chứng từ vận tải liên quan khác.
  • Phương tiện khi di chuyển trên lãnh thổ của nước kia phải tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp và quy định về giao thông đường bộ của nước sở tại. Đối với xe quá khổ, quá tải hoặc xe chở hàng hóa nguy hiểm, người vận chuyển phải xin cấp Giấy phép đặc biệt từ cơ quan quản lý của nước sở tại.

Quy định chi tiết về vận tải hành khách định kỳ

  • Tuyến đường và lịch trình: Điểm dừng xe, tuyến xe và thời gian biểu chạy xe do cơ quan quản lý hai bên bàn bạc thống nhất bằng văn bản. Thời hạn trả lời yêu cầu liên quan đến các nội dung này là 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của bên kia.
  • Chế độ vé: Áp dụng mẫu vé thống nhất bằng hai thứ tiếng do mỗi bên tự in ấn. Quy định về hoàn trả vé được chi tiết hóa: trả vé trước 2 tiếng so với giờ chạy chịu phí 10% giá vé, dưới 2 tiếng vé không còn giá trị. Trường hợp đau ốm có xác nhận của bệnh viện được trả vé trước 1 tiếng (phí 10%) hoặc đổi chuyến trong vòng 3 ngày. Nếu hành trình bị gián đoạn giữa đường do lỗi kỹ thuật hoặc sự cố, hành khách được chuyển xe miễn phí hoặc hoàn trả tiền vé chặng chưa đi mà không bị thu phí.
  • Yêu cầu đối với hành khách: Phải có vé hợp lệ và đầy đủ giấy tờ xuất nhập cảnh theo quy định. Nghiêm cấm vận chuyển người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm không có người đi kèm hoặc có người đi kèm nhưng vẫn gây nguy cơ mất an toàn, lây nhiễm cho hành khách khác.

Quy định về vận chuyển hành lý và hàng hóa

  • Hành khách được miễn phí tối đa 10 kg hành lý xách tay. Hành lý vượt quá trọng lượng này phải thực hiện ký gửi, đóng gói đúng quy chuẩn để thuận tiện cho việc bốc dỡ.
  • Nghiêm cấm ký gửi hoặc xách tay các loại hàng hóa nguy hiểm, chất dễ cháy, dễ nổ, hàng hóa gây ô nhiễm hoặc các loại hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất nhập khẩu của hai nước. Nhân viên bến xe có quyền yêu cầu hành khách khai báo và kiểm tra nếu phát hiện hành lý có nghi vấn.
  • Chủ hàng được quyền chủ động ký kết hợp đồng vận chuyển với các doanh nghiệp vận tải đã được hai nước cấp phép hoạt động vận tải quốc tế.

Hỗ trợ dịch vụ, xử lý tai nạn và các vấn đề tài chính

  • Hai bên cam kết cung cấp các dịch vụ cần thiết cho lái xe, nhân viên, hành khách và phương tiện của bên kia khi hoạt động trên lãnh thổ nước mình. Phí dịch vụ được thu theo quy định của nước sở tại.
  • Trường hợp xảy ra tai nạn giao thông trên lãnh thổ của nước kia, vụ việc sẽ được giải quyết theo pháp luật của nước sở tại. Nước xảy ra tai nạn có trách nhiệm nhanh chóng thông báo cho phía bên kia và tích cực hỗ trợ, cứu chữa, giúp đỡ lái xe, nhân viên và hành khách gặp nạn.
  • Giá vé, loại tiền thanh toán và phương thức chi trả đối với hoạt động vận tải sẽ do cơ quan quản lý có thẩm quyền của hai bên bàn bạc, thống nhất và báo cáo cơ quan chủ quản nhà nước phê chuẩn trước khi áp dụng.

Hiệu lực thi hành

Nghị định thư có hiệu lực kể từ ngày ký (ngày 03 tháng 6 năm 1997). Thời hạn hiệu lực của Nghị định thư được xác định theo thời hạn hiệu lực của Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Những vấn đề phát sinh chưa được quy định trong Nghị định thư này sẽ được giải quyết căn cứ theo quy định pháp luật nội địa của mỗi bên và các điều khoản của Hiệp định chính khung.

NGHỊ ĐỊNH THƯ

CỦA BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM VÀ BỘ GIAO THÔNG TRUNG QUỐC THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA (1997).

Bộ Giao thông vận tải nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Giao thông nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ký bản nghị định thư này nhằm thực hiện "Hiệp định vận tải đường bộ" đã ký ngày 22/11/1994 giữa chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa để triển khai việc vận chuyển hành hoá, hành khách bằng ôtô giữa hai nước.

Điều 1. Trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ hai nước, để định ra những quy định cụ thể trong bản nghị định thư này. Khi thực hiện vận chuyển hàng hoá, hành khách giữa hai nước phải thực hiện nghị định thư này.

Điều 2. Khi vận chuyển hàng hoá, hành khách định kỳ, không định kỳ giữa hai nước, người thực hiện và phương tiện vận tải phải có giấy phép vận chuyển ôtô quốc tế (sau đây gọi tắt là giấy phép), các giấy tờ vận chuyển có liên quan và ký hiệu vận chuyển quốc tế đặc trưng, do bộ giao thông và các cơ quan quản lý có thẩm quyền của hai nước cấp phát.

Các cơ quan quản lý có thẩm quyền của mỗi bên mà bản Nghị định thư chỉ định nếu không chỉ định gì thêm thì chính là các đơn vị sau đây:

Phía Việt Nam: Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh.

Sở giao thông vận tải tỉnh Lạng Sơn.

Sở giao thông vận tải tỉnh Cao Bằng.

Sở giao thông vận tải tỉnh Hà Giang.

Sở giao thông vận tải tỉnh Loà Cai.

Sở giao thông vận tải tỉnh Lai Châu.

Phía Trung Quốc: Ty giao thông khu tự trị Quảng Tây.

Ty giao thông tỉnh Vân Nam.

Điều 3. Trước mắt việc vận chuyển hành khách (bao gồm cả khách du lịch) và vận chuyển hàng hoá qua các cửa khẩu đã được thông qua dưới đây:

Việt Nam

Trung Quốc

1. Móng Cái

1. Đông Hưng

2. Hữu Nghị

2. Hữu Nghị Quan

3. Tà Lùng

3. Thuỷ Khẩu

4. Thanh Thuỷ

4. Thiên Bảo

5. Lào Cai

5. Hà Khẩu 

6. Ma Lu Thàng

6. Kim Thuỷ Hà

Nếu cần tiến hành vận tải hành khách và hàng hóa bằng ôtô qua những cặp cửa khẩu khác trong số những cặp cửa khẩu đã được hai chính phủ cho phép mở, thì do cơ quan chủ quản vận tải được uỷ quyền của hai Bên bàn bạc và báo cáo với Bộ giao thông và cơ quan hữu quan của mình phê chuẩn, và do Bộ giao thông hai nước xác nhận bằng hình thức văn bản rồi được thực hiện.

Điều 4. Các đường vận tải hành khách, hàng hoá giữa hai nước do cơ quan quản lý có thẩm quyền của hai bên ký kết phê chuẩn, hai bên làm các thủ tục cần thiết, thông báo cho Bộ giao thông của nước mình phê chuẩn và sau khi đã thông báo xong mới thực hiện.

Điều 5. Nhiệm vụ vận chuyển hành khách, hàng hoá giữa hai nước do các doanh nghiệp vận tải được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê chuẩn, đảm nhiệm. Hai bên phải thông báo cho nhau về các đơn vị vận tải, số đăng ký xe và trọng lượng thiết kế của các xe được phê chuẩn thực hiện vận tải quốc tế giữa hai nước Việt Nam -Trung Quốc.

Điều 6.

1/ Giấy phép vận chuyển được chia thành ba loại: A, B, C (Mẫu giấy phép có phụ pục kèm theo).

Loại A (màu hồng) dùng để vận chuyển hành khách (bao gồm khách du lịch) định kỳ, có hiệu lực 1 năm.

Loại B (màu lam nhạt) dùng để vận chuyển hành khách (bao gồm khách du lịch) không định kỳ và xe chở hành lý, có hiệu lực là một lần đi và về.

Loại C (màu vàng nhạt) dùng để vận chuyển hàng hoá, có hiệu lực là một lần đi và về.

2/ Hai bên căn cứ vào mẫu mã đã được bàn bạc, chuẩn bị mẫu giấy phép vận chuyển của mỗi bên. Giấy phép vận chuyển của Việt Nam, tiếng Việt ở trên, tiếng Trung ở dưới. Giấy phép vận chuyển của Trung Quốc, tiếng Trung ở trên, tiếng Việt ở dưới. Từng năm, hai bên biên soạn chủng loại và ký hiệu của giấy phép, do cơ quan quản lý đóng dấu, các ngành thực thi cụ thể sẽ thực hiện việc cấp phát và kiểm tra giấy phép vận chuyển.

3/ Cơ quan quản lý đóng dấu trên giấy phép vận chuyển về phía Việt Nam là Bộ giao thông vận tải nước CHXHCN Việt nam và các sở giao thông vận tải được uỷ quyền như sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh, Sở giao thông vận tải Lạng Sơn, Sở giao thông vận tải Cao Bằng, Sở giao thông vận tải Hà Giang, Sở Giao thông vận tải Lào cai, Sở Giao thông vận tải Lai Châu. Phía Trung Quốc là Bộ giao thông nước CHND Trung Hoa và ty giao thông khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Ty giao thông tỉnh Vân Nam được uỷ quyền. Các ngành thực thi cụ thể, phía Việt Nam là các phòng quản lý vận tải do sở giao thông vận tải Quảng Ninh, Sở giao thông vận tải Lạng Sơn, Sở giao thông vận tải Cao Bằng, Sở giao thông vận tải Hà Giang, Sở giao thông vận tải Lào Cai, Sở giao thông vận tải Lai Châu đặt tại cửa khẩu. Phía Trung quốc là phòng quản lý xuất nhập cảnh ôtô và trạm quản lý giao thông vận tải đặt tại cửa khẩu của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Phòng quản lý vận chuyển cửa khẩu thuộc ty giao thông và Trạm quản lý giao thông vận tải đặt tại cửa khẩu của tỉnh Vân Nam.

4/ Sau khi cơ quan quản lý của hai bên đóng dấu và các ngành thực thi cụ thể ký, đóng dấu xong giấy phép vận chuyển mới có hiệu lực.

5/ Giấy phép vận chuyển mỗi năm được trao đổi hai lần. Cơ quan quản lý vận tải có thẩm quyền của hai bên căn cứ vào nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá, tôn trọng nguyên tắc đối đẳng sẽ bàn bạc số lượng trao đổi. Thời gian và địa điểm trao đổi cụ thể sẽ do Cơ quan quản lý vận tải có thẩm quyền của hai bên bàn bạc vào dịp khác.

6/ Đối với "giấy phép đặc biệt" được đề cập trong Hiệp định vận tải đường bộ giữa chính phủ hai nước, hai bên sẽ bàn vào dịp khác.

Điều 7. Phương tiện vận tải thực hiện vận chuyển hành khách, hàng hoá giữa hai nước, phải có phù hiệu vận chuyển quốc tế đặc trưng do Bộ giao thông vận tải hai nước thiết kế.

Phù hiệu dặc trưng của Việt Nam là: VMT (Vietnam Motor Transportation).

Phù hiệu đặc trưng của Trung Quốc là: CMT (China Motor Transportation).

Điều 8. Hình thức, mẫu mã của các giấy tờ vận chuyển hành khách, hàng hoá sẽ do cơ quan quản lý vận tải có thẩm quyền của hai bên bàn bạc.

Điều 9. Cơ quan quản lý vận tải đặt tại cửa khẩu của hai bên ký kết sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra giấy phép vận chuyển, phù hiệu đặc trưng của xe và các giấy tờ vận tải liên quan khác.

Điều 10. Khi phương tiện giao thông của một Bên ký kết đi vào lãnh thổ của Bên ký kết kia thì phải tôn trọng luật pháp và quy định về vận tải ôtô có liên quan khác của nước đó, nếu kích thước hoặc trọng lượng của xe chở hàng hoặc không chở hàng vượt quá quy định của nước sở tại và chở những hàng hoá nguy hiểm, thì người thực hiện vận chuyển phải có giấy phép đặc biệt mà cơ quan quản lý của nước sở tại cấp phát.

Điều 11. Điểm dừng xe, tuyến xe, thời gian biểu chạy xe của việc vận chuyển hành khách có định kỳ giữa hai nước sẽ do cơ quan quản lý vận tải có thẩm quyền của hai bên ký kết bàn bạc bằng văn bản, khi thấy cần thiết có thể gặp gỡ bàn bạc giải quyết. Cơ quan quản lý vận tải có thẩm quyền của một bên ký kết sau khi nhận được yêu cầu về những vấn đề trên của bên ký kết kia, thì phải trả lời trong thời gian là 30 ngày.

Điều 12. Vé vận chuyển hành khách định kỳ của hai bên được quy định như sau:

1/ Vận chuyển hành khách định kỳ thực hiện chế độ vé thống nhất, mẫu vé sẽ do cơ quan quản lý vận tải có thẩm quyền của hai bên bàn bạc. Mẫu vé bao gồm hai thứ tiếng của hai nước. Mỗi bên tự in mẫu vé.

2/ Do lý do riêng, hành khách không thể đi đúng thời gian được thì phải trả vé trước khi xe chạy 2 tiếng nhưng bị thu phí trả vé là 10 % giá vé, nếu dưới 2 tiếng thì vé này sẽ hết hạn.

3/ Do đau ốm, có giấy chứng nhận của bệnh viện, không thể đi xe được hành khách phải trả lại vé trước khi xe chạy 1 tiếng nhưng vẫn bị thu phí trả vé là 10 % giá vé hoặc có thể đổi sang chuyến xe khác cùng tuyến trong vòng 3 ngày. Nếu giữa đường hành khách không đi tiếp nữa thì được trả lại tiền vé quãng đường không đi tiếp nhưng vẫn bị thu phí trả vé là 10 % giá vé của quãng đường chưa đi.

4/ Đối với việc trẻ em được miễn vé hoặc mua nửa vé sẽ căn cứ vào quy định hữu quan của từng bên ký kết.

5/ Thời hạn của vé tính từ ngày lên xe tới ngày kết thúc hành trình, nhưng nếu chuyến xe này phát sinh những tình huống đặc biệt như có sự cố, sau khi thông qua kiểm chứng, hành khách có thể miễm phí chuyển sang xe khác; Nếu hành khách yêu cầu trả vé thì có thể được giải quyết và không thu phí trả vé.

Điều 13. Những hành khách đi tuyến xe vận tải giữa hai nước chấp hành một số yêu cầu sau:

1/ Phải có vé còn thời hạn theo mẫu quy định thống nhất giữa hai nước và có giấy tờ xuất nhập cảnh cần thiết do Chính phủ hai nước chấp nhận.

2/ Những hành khách thần kinh không ổn định hoặc mắc bệnh truyền nhiễm mà không có người đi kèm hoặc có người đi kèm nhưng vẫn đe doạ sự an toàn và lây bệnh đến các hành khách khác thì không được đi xe.

Điều 14. Việc vận chuyển hành lý, hàng hoá (sau đây gọi tắt là hàng hoá) của hành khách giữa hai nước được quy định như sau:

1/ Hành khách được miễn phí hành lý xách tay 10 Kg.

2/ Hàng hoá của hành khách vượt quá trọng lượng miễn phí xách tay thì phải gửi hàng. Hàng hoá gửi phải đóng gói cẩn thận, buộc chặt, để thuận tiện cho việc bốc dỡ. Giá vé gửi hàng sẽ bàn vào dịp khác.

3/ Cấm gửi và xách tay những hàng hoá nguy hiểm, dễ nổ, dễ cháy có khả năng làm tổn hại, gây ô nhiễm và cản trở sự an toàn của các hành khách khác.

4/ Cấm gửi và xách tay những hàng hoá mà Chính phủ hai nước đã cấm xuất nhập cảnh và vận chuyển.

5/ Đối với những hàng hoá có nghi vấn, nhân viên ở tại các bến xe có thể yêu cầu hành khách có hàng khai báo để kiểm tra.

Điều 15. Chủ hàng có thể ký hợp đồng vận chuyển với các doanh nghiệp vận tải mà hai bên ký kết cho phép tham gia vận chuyển quốc tế.

Điều 16.

1/ Hai bên ký kết cung cấp dịch vụ cần thiết cho lái xe và nhân viên, hành khách, phương tiện giao thông khi đang thực hiện nhiệm vụ vận chuyển giữa hai nước. Phí dịch vụ sẽ theo quy định của từng nước.

2/ Phương tiện vận tải hành khách và hàng hoá của bất kỳ bên ký kết nào khi xảy ra sự cố giao thông trên lãnh thổ nước ký kết kia thì phải giải quyết theo quy định hữu quan của nước sở tại, đồng thời nhanh chóng thông báo cho đối phương biết. Bên có sự cố xảy ra phải có sự giúp đỡ cần thiết cho lái xe, nhân viên và hành khách.

Điều 17. Giá vé, loại tiền sử dụng phương thức thanh toán và chi trả... của việc vận tải hành khách, hàng hoá bằng ôtô giữa hai nước sẽ do cơ quan quản lý vận tải có thẩm quyền của hai bên ký kết gặp gỡ, bàn bạc. Sau khi báo cáo cho cơ quan chủ quản của nhà nước phê chuẩn và thông báo cho nhau xong mới thực hiện.

Điều 18. Những vấn đề liên quan đến việc vận chuyển hành khách, hàng hoá bằng ôtô giữa hai nước mà nghị định thư này không đề cập tới sẽ được giải quyết theo quy định hữu quan của mỗi bên ký kết và theo Hiệp định Vận tải đường bộ giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc.

Thời hạn của nghị định thư này có cùng thời hạn với Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc.

Nghị định thư này ký tại Hà Nội - Việt Nam ngày 03 tháng 6 năm 1997 làm thành hai bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, hai bản đều có giá trị như nhau. Nghị định thư có hiệu lực kể từ ngày ký.

 

ĐẠI DIỆN BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
NƯỚC CHXH CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐẠI DIỆN BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
NƯỚC CH NHÂN DÂN TRUNG HOA

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định thư thực hiện Hiệp định vận tải đường bộ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Hoa (1997)

Số hiệu: Khongso
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 03/06/1997
Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 03/06/1997
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Giao thông - Vận tải
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định thư thực hiện Hiệp định vận tải đườ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký