Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị quyết số 07/2011/NQ-HĐND được Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang thông qua nhằm đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và đề ra phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu cùng các giải pháp trọng tâm cho năm 2012. Đây là văn bản pháp lý quan trọng định hình chiến lược phát triển toàn diện của tỉnh An Giang trong giai đoạn tiếp theo.

- Thông tin chung về văn bản

  • Tên văn bản: Nghị quyết 07/2011/NQ-HĐND về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2012 do tỉnh An Giang ban hành.
  • Cơ quan ban hành: Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang khóa VIII, kỳ họp thứ 3.
  • Ngày thông qua: Ngày 09 tháng 12 năm 2011.
  • Hiệu lực thi hành: Nghị quyết có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày thông qua (tức từ ngày 19 tháng 12 năm 2011).

- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2011

Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang thống nhất đánh giá năm 2011 là một năm đầy khó khăn do biến động kinh tế thế giới và trong nước, cùng với tình hình lũ lớn kéo dài đe dọa sản xuất và đời sống. Tuy nhưng, nhờ sự chỉ đạo linh hoạt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự nỗ lực của toàn dân, tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực:

  • Thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
  • Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá ở cả 3 khu vực; tổng thu ngân sách nhà nước tăng 10,1%; kim ngạch xuất khẩu đạt 830 triệu USD.
  • Lĩnh vực văn hóa - xã hội, an sinh xã hội, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm đạt kết quả tốt.
  • Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; quan hệ hợp tác với các tỉnh thuộc Vương quốc Campuchia tiếp tục phát triển.
  • Hạn chế tồn tại: Tăng trưởng kinh tế còn tiềm ẩn bất ổn; chỉ số giá tiêu dùng ở mức cao; sản xuất kinh doanh gặp khó khăn về tín dụng; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp và một số vấn đề xã hội chậm được giải quyết.

- Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2012

Tỉnh An Giang xác định các mục tiêu tổng quát cho năm 2012 bao gồm:

  • Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
  • Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học trong lai tạo giống cây trồng và vật nuôi.
  • Tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao, thị trường ổn định và phát triển sản phẩm mới phù hợp thị hiếu.
  • Cải thiện đời sống nhân dân, chú trọng giảm nghèo, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và giảm thiểu tệ nạn xã hội.
  • Phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
  • Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

- Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2012

Nghị quyết đề ra hệ thống chỉ tiêu cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường:

  • Chỉ tiêu kinh tế:
    • Tốc độ tăng trưởng tổng giá trị tăng thêm (GDP) đạt 12,5% so với năm 2011. Trong đó: nông - lâm - thủy sản tăng 3,9%; công nghiệp - xây dựng tăng 16%; dịch vụ tăng 15,1%.
    • GDP bình quân đầu người đạt 33,827 triệu đồng (tương đương 1.534 USD với tỷ giá 1 USD = 22.050 VNĐ).
    • Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp chiếm 32,3%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 13,0%; Dịch vụ chiếm 54,7%.
    • Kim ngạch xuất khẩu đạt 880 triệu USD (tăng 6% so với năm 2011).
    • Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 34.991 tỷ đồng (bằng 48% GDP).
    • Tổng thu ngân sách nhà nước từ kinh tế địa bàn đạt 4.789 tỷ đồng (tăng 13,8% so với ước thực hiện năm 2011).
  • Chỉ tiêu xã hội, giáo dục và y tế:
    • Mức giảm tỷ lệ sinh đạt 0,02%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,07%; tốc độ tăng dân số chung là 0,1%.
    • Giải quyết việc làm mới cho khoảng 35.000 lao động.
    • Tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 42%; trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 29,6%.
    • Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 6% (giảm 2%); tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số giảm xuống còn 22,32% (giảm 3%).
    • Số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt khoảng 16,0 giường.
    • Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm còn khoảng 15,4%.
    • Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 10‰; dưới 5 tuổi là 17‰.
    • Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi: Tiểu học đạt 98,6%; Trung học cơ sở đạt 75,2%; Trung học phổ thông đạt 47,4%.
  • Chỉ tiêu môi trường và xây dựng nông thôn mới:
    • Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt 80%; tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh đạt 73,5%; tỷ lệ dân đô thị được cấp nước sạch đạt 94,6%.
    • Tỷ lệ che phủ rừng và cây xanh phân tán đạt 20,2%.
    • Về xây dựng nông thôn mới: Có 3 xã đạt trên 15 tiêu chí; 6 xã đạt trên 13 tiêu chí; 21 xã đạt từ 11-12 tiêu chí; các xã còn lại đạt từ 7-10 tiêu chí.

- Các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm

Để hoàn thành các mục tiêu đề ra, Nghị quyết xác định rõ các nhóm giải pháp lớn cần tập trung triển khai:

  • Thực hiện các chương trình trọng điểm: Triển khai hiệu quả 06 chương trình trọng điểm giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm: Chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn; Chương trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Chương trình phát triển nguồn nhân lực; Chương trình cải cách hành chính nhà nước; Chương trình bảo vệ tài nguyên và môi trường; Chương trình xúc tiến đầu tư và thương mại.
  • Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới: Phát triển nông nghiệp bền vững, chất lượng cao, tăng sức cạnh tranh. Thực hiện nhanh chương trình "tam nông" và chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
  • Phát triển công nghiệp và đầu tư hạ tầng: Tập trung đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp và cụm tiểu thủ công nghiệp cấp huyện. Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông sản thế mạnh (gạo, thủy sản, rau quả đông lạnh). Tập trung vốn cho các công trình trọng điểm, cấp bách thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, giao thông.
  • Phát triển dịch vụ, du lịch và thương mại: Nâng cao chất lượng dịch vụ nội địa và quốc tế, gắn phát triển dịch vụ với du lịch và lễ hội văn hóa. Mở rộng mạng lưới dịch vụ nông thôn để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
  • Quản lý tài chính, ngân sách: Thu đúng, thu đủ, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, chống thất thu thuế, buôn lậu và gian lận thương mại. Xử lý nợ đọng thuế và thực hiện tốt công tác hoàn thuế. Thắt chặt chi tiêu công, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
  • Phát triển giáo dục, y tế và văn hóa: Nâng cao năng lực quản lý giáo dục, duy trì phổ cập mẫu giáo 5 tuổi, hạn chế học sinh bỏ học. Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giảm tỷ lệ tử vong, thực hiện tốt mục tiêu giảm sinh. Bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử, lễ hội gắn với du lịch.
  • An sinh xã hội, lao động và bình đẳng giới: Thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.
  • Quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội: Giữ vững ổn định chính trị, tăng cường tấn công trấn áp tội phạm, bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ và các tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, HIV/AIDS).
  • Cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng: Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo. Tăng cường dân vận chính quyền, nâng cao vai trò của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và tạo điều kiện để nhân dân, báo chí giám sát.

- Tổ chức thực hiện

  • Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang: Chịu trách nhiệm triển khai, chỉ đạo điều hành, kiểm tra việc thực hiện của các ngành, các cấp; tăng cường phối hợp giữa các địa phương để bảo đảm thực hiện thắng lợi Nghị quyết.
  • Hội đồng nhân dân tỉnh: Thường trực HĐND, các Ban, Tổ đại biểu và đại biểu HĐND phối hợp chặt chẽ với UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh để tuyên truyền, giám sát, đôn đốc thực hiện Nghị quyết.
  • Lời kêu gọi: Hội đồng nhân dân tỉnh kêu gọi toàn thể đồng bào, cán bộ, chiến sĩ phát huy thành tích, triệt để tiết kiệm, nỗ lực vượt khó, tận dụng thời cơ để hoàn thành và vượt các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2012.

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
------------------

Số: 07/2011/NQ-HĐND

An Giang, ngày 09 tháng 12 năm 2011

 

NGHỊ QUYẾT

VỀ NHIỆM VỤ KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2012

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
KHÓA VIII KỲ HỌP THỨ 3

(Từ ngày 07 đến ngày 09/12/2011)

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Sau khi xem xét báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 và kế hoạch năm 2012; báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Tán thành báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2012 và nhất trí khẳng định:

1. Năm 2011, tình hình kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, chứa đựng nhiều biến động khó lường, lũ lớn kéo dài đe dọa sản xuất vụ Thu Đông (vụ 3) và sinh hoạt của người dân, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng dưới sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Tỉnh ủy, quản lý, điều hành linh hoạt, năng động, sáng tạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, sự tích cực giám sát của Hội đồng nhân dân, nỗ lực quyết tâm cao của các cấp, các ngành, của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp đã đoàn kết phấn đấu, khai thác triệt để các nguồn lực và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, nhiều lĩnh vực kinh tế tiếp tục có sự tăng trưởng khá, 3 khu vực của nền kinh tế tăng trưởng ở mức hợp lý, tổng thu ngân sách tăng 10,1%, kim ngạch xuất khẩu đạt 830 triệu USD, lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là lĩnh vực an sinh xã hội, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí tiếp tục đạt kết quả tốt, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng an ninh được đảm bảo; quan hệ hợp tác hữu nghị với các tỉnh bạn của Vương quốc Campuchia ngày càng phát triển.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nhà vẫn còn không ít khó khăn, thách thức. Tăng trưởng kinh tế tuy ở mức cao nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất ổn, chỉ số giá tiêu dùng đang ở mức cao, tình hình sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn nhất là tín dụng, thiên tai, dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm được giải quyết sẽ tác động tiêu cực đến quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2012.

2. Nhiệm vụ năm 2012:

a) Mục tiêu:

- Tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.

- Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao những công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học trong lai tạo giống cây, con.

- Tập trung phát triển những sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao và những sản phẩm có thị trường ổn định, tiếp tục nghiên cứu và phát triển những sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước.

- Không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, quan tâm hơn nữa việc giảm nghèo, đào tạo nghề và giải quyết việc làm mới cho người lao động; giảm dần các tệ nạn xã hội.

- Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

- Giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

b) Các chỉ tiêu chủ yếu:

- Tổng giá trị tăng thêm (GDP) tăng 12,5% so với năm 2011; trong đó, khu vực nông lâm thủy sản tăng 3,9%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 16%, khu vực dịch vụ tăng 15,1%. GDP bình quân đầu người đạt 33,827 triệu đồng, tương đương 1.534 USD (theo tỷ giá 1 USD = 22.050 VNĐ).

- Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông nghiệp chiếm 32,3%; Khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 13,0%; Khu vực dịch vụ chiếm 54,7%.

- Kim ngạch xuất khẩu đạt 880 triệu USD, tăng 6% so năm 2011.

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 34.991 tỷ đồng, bằng 48% GDP.

- Tổng thu ngân sách nhà nước từ kinh tế địa bàn 4.789 tỷ đồng, tăng 13,8% so với ước thực hiện năm 2011.

- Mức giảm tỷ lệ sinh 0,02%.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,07%; tốc độ tăng dân số 0,1%.

- Tạo việc làm cho khoảng 35 ngàn lao động.

- Tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân đạt 42%.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề so với tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân đạt 29,6%.

- Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 6% (giảm 2%).

- Tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số còn 22,32% (giảm 3%).

- Số giường bệnh trên 1 vạn dân khoảng 16,0 giường.

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi) khoảng 15,4%.

- Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi/1000 trẻ đẻ sống khoảng 10‰.

- Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi/1000 trẻ đẻ sống khoảng 17‰.

- Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi bậc tiểu học đạt khoảng 98,6%.

- Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi bậc trung học cơ sở đạt khoảng 75,2%.

- Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi bậc THPT đạt khoảng 47,4%.

- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt 80%.

- Tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh 73,5%.

- Tỷ lệ dân đô thị được cấp nước sạch 94,6%.

- Tỷ lệ che phủ rừng và cây xanh phân tán 20,2%.

- Có 3 xã đạt trên 15 tiêu chí, 06 xã đạt trên 13 tiêu chí, 21 xã đạt từ 11-12 tiêu chí và các xã còn lại đạt từ 07-10 tiêu chí nông thôn mới.

c) Một số nhiệm vụ và giải pháp chính cần tập trung:

- Triển khai thực hiện có hiệu quả 06 chương trình trọng điểm theo kế hoạch 5 năm (2011 - 2015) của tỉnh, bao gồm: Chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn; Chương trình đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Chương trình phát triển nguồn nhân lực; Chương trình cải cách hành chính nhà nước; Chương trình bảo vệ tài nguyên và môi trường; Chương trình xúc tiến đầu tư và thương mại, để nhằm tập trung mọi nguồn lực vào những điểm mang tính đột phá, khai thác những tiềm năng sẵn có, giải quyết được những vấn đề còn tồn tại, hạn chế của tỉnh.

Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, có chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực. Triển khai nhanh và thực hiện có hiệu quả chương trình tam nông về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh và cụm tiểu thủ công nghiệp cấp huyện; tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp có thế cạnh tranh cao như gạo, thủy sản, rau quả đông lạnh.

Tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thành các công trình trọng điểm, cấp bách các công trình đã có đầy đủ hồ sơ theo quy định. Bố trí vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên: Giáo dục, y tế, kết cấu hạ tầng giao thông, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực các ngành dịch vụ trên thị trường nội địa và quốc tế. Phát triển dịch vụ gắn với phát triển du lịch trên địa bàn.

Đầu tư mở rộng mạng lưới dịch vụ nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà sản xuất kinh doanh tiếp cận thị trường nông thôn.

Thực hiện tính đúng, tính đủ các khoản thu theo quy định của pháp luật và chế độ hiện hành. Kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, chống thất thu thuế, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế, thực hiện tốt công tác hoàn thuế.

Thắt chặt chi tiêu, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong mọi hoạt động của bộ máy chính quyền.

Nâng cao năng lực quản lý giáo dục, mở rộng quy mô các bậc học một cách hợp lý, duy trì kết quả phổ cập mẫu giáo 5 tuổi, huy động hết số trẻ 6 tuổi và 7 tuổi chưa đi vào lớp 1, huy động tối đa số học sinh bỏ học trở lại trường.

Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh tật, nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng cuộc sống, thực hiện tốt mục tiêu giảm sinh và nâng cao chất lượng dân số.

Nâng cao thể chất của người dân, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích văn hóa, lịch sử, lễ hội, phát triển du lịch gắn với lễ hội văn hóa, di tích.

Nâng chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh xã hội. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động, thực hiện bình đẳng giới và các mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Tăng cường củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị trật tự an toàn xã hội. Triển khai đồng bộ các giải pháp tấn công trấn áp tội phạm. Đảm bảo an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm HIV/AIDS.

Đẩy mạnh việc rà soát, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ công. Giải quyết nhanh, kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tăng cường công tác dân vận chính quyền. Nâng cao vai trò Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tạo nhiều kênh thông tin để báo, đài, nhân dân tham gia giám sát, tố giác tham nhũng, lãng phí.

Điều 2. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai, chỉ đạo điều hành và kiểm tra việc tổ chức thực hiện của các ngành, các cấp. Tăng cường trách nhiệm phối hợp hành động giữa các ngành và địa phương để đảm bảo thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, tổ đại biểu và đại biểu Hội đồng nhân dân có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên tăng cường tuyên truyền giám sát, đôn đốc các ngành, các cấp và vận động nhân dân tích cực thực hiện Nghị quyết.

Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII, kỳ họp thứ 3 kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ tiếp tục phát huy thành tích đạt được, triệt để tiết kiệm trong tiêu dùng, sản xuất, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, tận dụng thời cơ thuận lợi, khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh nhà, đoàn kết thống nhất, chung sức chung lòng thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2012.

Điều 3. Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khóa VIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2011 và có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày thông qua./.

 


Nơi nhận:

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chính phủ;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chính phủ;
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
- Bộ Tài chính;
- Vụ 4 - Văn phòng Chính phủ;
- Cục Kiểm tra văn bản - Bộ Tư pháp;
- Website Chính phủ;
- TT. TU, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh;
- Đoàn ĐBQH tỉnh;
- Các vị đại biểu HĐND tỉnh;
- Các sở, ban ngành, đoàn thể cấp tỉnh;
- Văn phòng: TU, Đoàn ĐBQH & HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh;
- TT. HĐND, UBND các huyện, thị, thành;
- Báo AG, Đài PTTH AG, Phân xã AG, Website tỉnh;
- Lưu: VT, P.CTHĐND-LD.

CHỦ TỊCH




Phan Văn Sáu

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết 07/2011/NQ-HĐND về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2012 do tỉnh An Giang ban hành

Số hiệu: 07/2011/NQ-HĐND
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 09/12/2011
Nơi ban hành: Tỉnh An Giang
Người ký: Phan Văn Sáu
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 19/12/2011
Tình trạng: ● Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thương mại, Văn hóa - Xã hội
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết 07/2011/NQ-HĐND về nhiệm vụ kinh t...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký