Tóm tắt Nghị quyết 107/2015/QH13 về thực hiện chế định Thừa phát lại
Nghị quyết số 107/2015/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2015. Văn bản này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế tư pháp, chính thức kết thúc giai đoạn thí điểm và cho phép triển khai chế định Thừa phát lại trên phạm vi toàn quốc.
1. Chính thức áp dụng chế định Thừa phát lại trên phạm vi toàn quốc
Nghị quyết ghi nhận và đánh giá cao những kết quả tích cực đã đạt được trong quá trình thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội. Trên cơ sở đó, Quốc hội quyết định:
- Chấm dứt hoàn toàn việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại.
- Chính thức cho phép thực hiện chế định Thừa phát lại trên phạm vi toàn quốc kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.
2. Trách nhiệm tổ chức thực hiện và hoạt động của các tổ chức Thừa phát lại
Để bảo đảm hoạt động Thừa phát lại được triển khai đồng bộ, hiệu quả và đúng pháp luật, Nghị quyết phân công nhiệm vụ và quy định chuyển tiếp rõ ràng:
- Trách nhiệm của Chính phủ: Căn cứ vào tình hình thực tế tại từng địa phương để tổ chức thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi hành nghề theo quy định hiện hành; chủ động thực hiện các sửa đổi, bổ sung cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế phát sinh trong hoạt động Thừa phát lại; đồng thời chịu trách nhiệm tổ chức công tác đào tạo nghề Thừa phát lại.
- Quy định chuyển tiếp cho các tổ chức Thừa phát lại: Các tổ chức Thừa phát lại đã được thành lập hợp pháp trong giai đoạn thí điểm (theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13) được tiếp tục hoạt động theo quy định của Nghị quyết này cho đến khi Quốc hội ban hành Luật Thừa phát lại.
3. Công tác phối hợp và hoàn thiện thể chế pháp luật
Nghị quyết đề ra lộ trình hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật ở cấp Luật đối với chế định Thừa phát lại:
- Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết này.
- Các cơ quan nêu trên có nhiệm vụ phối hợp chuẩn bị dự án Luật Thừa phát lại, báo cáo Quốc hội xem xét để đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIV.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Nghị quyết số: 107/2015/QH13 | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2015 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH THỪA PHÁT LẠI
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về tổng kết việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội và Tờ trình số 584/TTr-CP ngày 27 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại, Báo cáo thẩm tra số 2974/BC-UBTP13 ngày 14 tháng 9 năm 2015, Báo cáo thẩm tra số 3085/BC-UBTP13 ngày 08 tháng 11 năm 2015 của Ủy bantư pháp của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;
QUYẾT NGHỊ:
Ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội. Chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016.
Giao Chính phủ căn cứ tình hình thực tế ở địa phương tổ chức thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi hành nghề theo quy định hiện hành, có sự sửa đổi, bổ sung cần thiết để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong hoạt động Thừa phát lại và chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo nghề Thừa phát lại.
Các tổ chức Thừa phát lại được thành lập theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội tiếp tục hoạt động theo quy định của Nghị quyết này cho đến khi Quốc hội ban hành Luật Thừa phát lại.
Chính phủ phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao triển khai thực hiện Nghị quyết này và chuẩn bị dự án Luật Thừa phát lại, báo cáo Quốc hội xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XIV.
Nghịquyếtnày đã được Quốc hội nước Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2015.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1 Quyết định 2954/QĐ-BTP năm 2013 về Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định 135/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 2 Thông tư 12/2014/TT-BTP về mẫu; nguyên tắc sử dụng trang phục; nguyên tắc cấp phát, sử dụng Thẻ Thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 3 Công văn 3064/BTP-TCTHADS năm 2014 tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại do Bộ Tư pháp ban hành
- 4 Công văn 138/TANDTC-KHTC năm 2014 hướng dẫn về thực hiện thí điểm Thừa phát lại do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 5 Công văn 4003/BTP-TCTHADS năm 2014 hướng dẫn nội dung trong hoạt động Thừa phát lại do Bộ Tư pháp ban hành
- 6 Thông tư 223/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại; phí thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 1 Nghị quyết số 24/2008/QH12 về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự do Quốc hội ban hành
- 2 Nghị quyết 36/2012/QH13 tiếp tục thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại do Quốc hội ban hành
- 3 Hiến pháp 2013
- 4 Quyết định 2954/QĐ-BTP năm 2013 về Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định 135/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 5 Thông tư 12/2014/TT-BTP về mẫu; nguyên tắc sử dụng trang phục; nguyên tắc cấp phát, sử dụng Thẻ Thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 6 Công văn 3064/BTP-TCTHADS năm 2014 tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại do Bộ Tư pháp ban hành
- 7 Công văn 138/TANDTC-KHTC năm 2014 hướng dẫn về thực hiện thí điểm Thừa phát lại do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 8 Công văn 4003/BTP-TCTHADS năm 2014 hướng dẫn nội dung trong hoạt động Thừa phát lại do Bộ Tư pháp ban hành
- 9 Thông tư 223/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề thừa phát lại; phí thẩm định điều kiện thành lập, hoạt động Văn phòng Thừa phát lại do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành