Nghị quyết 13/NQ-CP năm 2023 được Chính phủ ban hành nhằm thông qua hồ sơ xây dựng Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, định hình các nguyên tắc cốt lõi và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc ban hành Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam.
Các trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần sự đồng ý của chủ thể
Một trong những nội dung quan trọng nhất được thông qua tại Nghị quyết là việc xác định rõ các trường hợp đặc biệt mà dữ liệu cá nhân được phép xử lý mà không cần có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, bao gồm:
- Bảo vệ tính mạng, sức khỏe: Thực hiện xử lý dữ liệu trong tình huống khẩn cấp nhằm bảo vệ tính mạng hoặc sức khỏe của chính chủ thể dữ liệu hoặc của người khác. Trong trường hợp này, Bên Kiểm soát dữ liệu cá nhân, Bên Xử lý dữ liệu cá nhân, Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, cùng Bên thứ ba có trách nhiệm chứng minh về tình huống khẩn cấp đó.
- Công khai dữ liệu theo luật định: Việc công khai dữ liệu cá nhân được thực hiện theo đúng các quy định cụ thể của pháp luật.
- Phục vụ an ninh, quốc phòng và tình trạng khẩn cấp: Việc xử lý dữ liệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện trong các trường hợp khẩn cấp về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, thảm họa lớn, hoặc dịch bệnh nguy hiểm. Quy định này cũng áp dụng khi có nguy cơ đe dọa an ninh, quốc phòng nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp; hoặc trong công tác phòng, chống bạo loạn, khủng bố, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của luật.
- Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng: Xử lý dữ liệu nhằm thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết giữa chủ thể dữ liệu với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của luật.
- Hoạt động của cơ quan nhà nước: Phục vụ trực tiếp cho các hoạt động của cơ quan nhà nước đã được quy định cụ thể trong các luật chuyên ngành.
Thông qua hồ sơ và phân công trách nhiệm báo cáo
Nghị quyết thống nhất các bước tiếp theo trong quy trình xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật:
- Thông qua các nội dung cốt lõi: Chính phủ chính thức thông qua nội dung Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo tiếp thu ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội và nội dung dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân.
- Giao nhiệm vụ báo cáo: Giao Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ báo cáo và xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Hiệu lực pháp lý: Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
- Trách nhiệm thi hành: Bộ trưởng Bộ Công an, các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các nội dung được giao tại Nghị quyết này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 13/NQ-CP | Hà Nội, ngày 07 tháng 02 năm 2023 |
NGHỊ QUYẾT
THÔNG QUA HỒ SƠ XÂY DỰNG NGHỊ ĐỊNH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 39/2022/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;
Căn cứ Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ về việc thông qua đề nghị xây dựng Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an tại báo cáo số 113/BC-BCA-A05 ngày 02 tháng 02 năm 2023;
Trên cơ sở kết quả Phiếu ghi ý kiến thành viên Chính phủ.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Đồng ý quy định dữ liệu cá nhân được xử lý không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu trong trường hợp sau:
a) Để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của chủ thể dữ liệu hoặc người khác trong tình huống khẩn cấp. Bên Kiểm soát dữ liệu cá nhân, Bên Xử lý dữ liệu cá nhân, Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, Bên thứ ba có trách nhiệm chứng minh trường hợp này;
b) Việc công khai dữ liệu cá nhân theo quy định của luật;
c) Việc xử lý dữ liệu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm; khi có nguy cơ đe dọa an ninh, quốc phòng nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp; phòng, chống bạo loạn, khủng bố, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật theo quy định của luật;
d) Để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng của chủ thể dữ liệu với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của luật;
đ) Phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước đã được quy định theo luật chuyên ngành.
Điều 2. Thông qua nội dung Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo tiếp thu ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội, nội dung dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân; giao Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ báo cáo, xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
Điều 3. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này./
|
| TM. CHÍNH PHỦ |