Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị quyết 60/2011/QH12 được Quốc hội ban hành nhằm hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (Luật số 65/2011/QH12). Đây là văn bản pháp lý quan trọng quy định chi tiết về lộ trình áp dụng, các biện pháp chuyển tiếp đối với các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong giai đoạn giao thoa giữa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật sửa đổi năm 2011.

1. Hiệu lực thi hành của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự

Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011. Thời điểm phát sinh hiệu lực thi hành chính thức của Luật này được ấn định là ngày 01 tháng 01 năm 2012.

2. Quy định áp dụng pháp luật trong giai đoạn từ ngày công bố đến trước ngày Luật có hiệu lực

Trong khoảng thời gian từ ngày Luật sửa đổi được công bố cho đến trước ngày có hiệu lực chính thức (ngày 01 tháng 01 năm 2012), việc giải quyết các thủ tục giám đốc thẩm được phân tách rõ ràng như sau:

  • Đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày công bố Luật sửa đổi: Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được áp dụng theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
  • Đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày công bố Luật sửa đổi: Thời hạn đề nghị xem xét và thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được áp dụng theo các quy định mới tại Điều 284 và Điều 288 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12.
  • Về thủ tục giải quyết: Toàn bộ thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định thuộc hai trường hợp nêu trên vẫn phải thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

3. Quy định áp dụng pháp luật kể từ ngày Luật sửa đổi có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/01/2012)

Nghị quyết đưa ra các nguyên tắc chuyển tiếp chi tiết đối với từng giai đoạn tố tụng cụ thể kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012:

  • Giai đoạn xét xử sơ thẩm: Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 01 năm 2012 nhưng đến sau thời điểm này mới tiến hành giải quyết sơ thẩm thì áp dụng hoàn toàn các quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi theo Luật số 65/2011/QH12.
  • Giai đoạn xét xử phúc thẩm: Những vụ việc đã được giải quyết sơ thẩm trước ngày 01 tháng 01 năm 2012 nhưng kể từ ngày này mới thực hiện xét xử phúc thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi theo Luật số 65/2011/QH12 để giải quyết.
  • Xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đã có kháng nghị trước: Đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đã bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 01 năm 2012 nhưng đến sau ngày này mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi theo Luật số 65/2011/QH12.
  • Xử lý đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chưa có kháng nghị: Trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nộp trong khoảng thời gian từ ngày công bố Luật sửa đổi đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2012 mà chưa được người có thẩm quyền kháng nghị, thì việc thực hiện kháng nghị sau đó phải tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi theo Luật số 65/2011/QH12.
  • Kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm phát sinh sau ngày Luật có hiệu lực: Đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 01 năm 2012 nhưng sau ngày này mới thực hiện kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (trừ trường hợp nộp đơn đề nghị trong giai đoạn chuyển tiếp nêu trên), thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị vẫn áp dụng theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Tuy nhiên, quá trình xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các trường hợp này phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi theo Luật số 65/2011/QH12.

4. Trách nhiệm rà soát văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn thi hành

Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và hiệu quả thi hành thực tế, Nghị quyết giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan trung ương:

  • Rà soát và ban hành văn bản mới: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tự mình hoặc phối hợp tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bảo đảm sự đồng bộ với Luật sửa đổi năm 2011 trước ngày 01 tháng 01 năm 2012.
  • Nghiên cứu sửa đổi toàn diện: Các cơ quan nêu trên phối hợp với các tổ chức hữu quan tiếp tục tổng hợp, nghiên cứu các vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự chưa được sửa đổi lần này để chuẩn bị phương án xây dựng, sửa đổi cơ bản và toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự trong tương lai.
  • Hướng dẫn thi hành: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành Nghị quyết này trên phạm vi cả nước.

QUỐC HỘI
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Nghị quyết số: 60/2011/QH12

Hà Nội, ngày 29 tháng 03 năm 2011

NGHỊ QUYẾT

VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012.

Điều 2.

1. Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được công bố đến ngày Luật này có hiệu lực:

a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được công bố áp dụng theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 (sau đây gọi là Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004);

b) Thời hạn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luất tố tụng dân sự được công bố được áp dụng theo quy định tại Điều 284 và Điều 288 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2011/QH12;

c) Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động nêu tại điểm a và điểm b khoản này được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

2. Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực:

a) Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới giải quyết sơ thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 65/2011/QH12 để giải quyết;

b) Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án giải quyết sơ thẩm trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 65/2011/QH12 để giải quyết;

c) Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực nhưng kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 65/2011/QH12 để giải quyết;

d) Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời gian kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được công bố cho đến trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có thẩm quyền, thì việc kháng nghị được thực hiện theo Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 65/2011/QH12;

đ) Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực mà kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này, thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật tố tung dân sự năm 2004; việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2011/QH12.

Điều 3.

1. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các văn bản có liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo hiệu lực của Luật này từ ngày 01 tháng 01 năm 2012; phối hợp với các cơ quan hữu quan tiếp tục nghiên cứu các điều khoản của Bộ luật tố tụng dân sự có vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự mà chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung để chuẩn bị phương án cho việc sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Nguyễn Phú Trọng

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết 60/2011/QH12 về thi hành Luật Tố tụng dân sự sửa đổi do Quốc hội ban hành

Số hiệu: 60/2011/QH12
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 29/03/2011
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nguyễn Phú Trọng
Ngày công báo: 27/07/2011
Số công báo: Từ số 423 đến số 424
Ngày hiệu lực: 29/03/2011
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết 60/2011/QH12 về thi hành Luật Tố t...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký