Giới thiệu chung về Nghị quyết liên tịch 02/2011/NQLT-UBTVQH-CP-ĐCTUBTWMTTQVN
Nghị quyết liên tịch số 02/2011/NQLT-UBTVQH-CP-ĐCTUBTWMTTQVN do Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp ban hành. Văn bản này quy định chi tiết về quy trình, thẩm quyền và cách thức tổ chức hội nghị lấy ý kiến của cử tri nơi công tác (hoặc nơi làm việc) và nơi cư trú đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (bao gồm cả người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử).
1. Quy định về tổ chức hội nghị cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc (Điều 2)
Việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác được thực hiện tại nơi người ứng cử làm việc thường xuyên. Quy trình tổ chức cụ thể cho từng nhóm đối tượng được phân định rõ ràng:
- Cơ quan Đảng: Đối với người công tác chuyên trách tại cơ quan Đảng các cấp, hội nghị do văn phòng tổ chức, đại diện ban lãnh đạo và Ban chấp hành công đoàn triệu tập, chủ trì. Đối với người công tác tại Đảng ủy cấp xã, lấy ý kiến của Ban chấp hành Đảng bộ do Ban thường vụ Đảng ủy cấp xã chủ trì. Đối với các cơ quan chuyên môn của Đảng (ban, học viện, trường Đảng...), hội nghị do ban lãnh đạo và công đoàn cơ quan chủ trì.
- Cơ quan Nhà nước: Người công tác tại các cơ quan Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội sẽ lấy ý kiến tại văn phòng các cơ quan này. Đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, hội nghị do ban lãnh đạo và công đoàn cơ quan phối hợp chủ trì.
- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội: Ở cấp trung ương, lấy ý kiến hội nghị cử tri cơ quan. Ở cấp địa phương, lấy ý kiến hội nghị cử tri cơ quan và ban thường vụ hoặc ban chấp hành tổ chức đó.
- Tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp và tổ chức kinh tế: Hội nghị do ban lãnh đạo phối hợp với Ban chấp hành công đoàn (hoặc tổ công đoàn) triệu tập và chủ trì. Trường hợp chưa có tổ chức công đoàn, đại diện lãnh đạo đơn vị sẽ trực tiếp chủ trì.
- Đơn vị vũ trang nhân dân: Lấy ý kiến tại hội nghị cử tri cơ quan hoặc hội nghị quân nhân của đơn vị, do đại diện lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì.
Quy định về số lượng cử tri tham dự hội nghị nơi công tác:
- Nơi có dưới 100 cử tri: Tổ chức hội nghị toàn thể, yêu cầu tối thiểu hai phần ba (2/3) tổng số cử tri tham dự.
- Nơi có từ 100 cử tri trở lên: Không nhất thiết tổ chức hội nghị toàn thể nhưng phải bảo đảm ít nhất 70 cử tri tham dự.
- Đối với đơn vị có công đoàn, Ban chấp hành công đoàn phân bổ số lượng người tham dự; nơi không có công đoàn thì các bộ phận chuyên môn cử đại diện. Người ứng cử được mời tham dự hội nghị này.
2. Quy định về tổ chức hội nghị cử tri nơi cư trú (Điều 3)
Hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú được tổ chức tại thôn, tổ dân phố nơi người ứng cử cư trú thường xuyên (không phân biệt hộ khẩu thường trú hay tạm trú dài hạn). Hội nghị do Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì.
Yêu cầu về số lượng cử tri tham dự hội nghị nơi cư trú:
- Nơi có dưới 50 cử tri: Tổ chức hội nghị toàn thể, yêu cầu trên 50% số cử tri tham dự.
- Nơi có từ 50 cử tri trở lên: Không nhất thiết tổ chức hội nghị toàn thể nhưng phải bảo đảm ít nhất 40 cử tri tham dự. Thành phần tham dự do Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng Tổ dân phố để mời.
Quy định đặc biệt về việc ủy quyền đối với người tự ứng cử:
- Trường hợp người tự ứng cử có lý do chính đáng không thể tham dự hội nghị thì được ủy quyền cho người đại diện (từ 21 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự) đến dự.
- Người được ủy quyền phải báo cáo lý do, giải trình các vấn đề liên quan đến người tự ứng cử, không được lợi dụng diễn đàn để tuyên truyền trái pháp luật hoặc vận động lợi ích cá nhân, và phải tuân thủ sự điều hành của người chủ trì.
3. Tiêu chuẩn đánh giá, hình thức biểu quyết và biên bản hội nghị (Điều 4)
Tại hội nghị, cử tri đối chiếu người ứng cử với tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân để bày tỏ sự tín nhiệm. Hình thức biểu quyết (giơ tay hoặc bỏ phiếu kín) do hội nghị quyết định.
- Trường hợp bỏ phiếu kín: Hội nghị bầu ra ban kiểm phiếu từ 3 đến 5 người. Phiếu tín nhiệm tại nơi công tác phải có dấu của công đoàn hoặc cơ quan; phiếu tại nơi cư trú phải có dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã hoặc Ủy ban nhân dân cùng cấp. Trên phiếu ghi rõ họ tên người ứng cử (xếp theo vần chữ cái A, B, C... nếu có nhiều người). Cử tri gạch tên người không tín nhiệm.
- Lập biên bản hội nghị: Biên bản phải ghi rõ tổng số cử tri được triệu tập, số người có mặt, các ý kiến phát biểu và kết quả tín nhiệm đối với từng người ứng cử.
- Gửi biên bản: Biên bản hội nghị đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội do trung ương giới thiệu gửi về Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đối với người ứng cử ở địa phương gửi về Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh. Biên bản đối với người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân gửi về Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp bầu cử tương ứng ngay sau khi kết thúc hội nghị.
4. Chương trình chi tiết của hội nghị lấy ý kiến cử tri (Điều 5)
Chương trình hội nghị lấy ý kiến cử tri đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự 11 bước sau:
- Người chủ trì tuyên bố lý do hội nghị.
- Giới thiệu thư ký hội nghị (phải được đa số cử tri tham dự tán thành).
- Báo cáo số lượng cử tri được mời và số lượng người thực tế có mặt.
- Giới thiệu các đại biểu, khách mời tham dự hội nghị.
- Giới thiệu danh sách những người ứng cử.
- Thư ký hội nghị đọc tiểu sử tóm tắt của từng người ứng cử.
- Đọc các quy định pháp luật về tiêu chuẩn và những trường hợp không được ứng cử (Điều 3 và Điều 29 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 đối với ứng cử viên Quốc hội; hoặc Điều 3 và Điều 31 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 đối với ứng cử viên Hội đồng nhân dân).
- Cử tri phát biểu ý kiến nhận xét, đánh giá đối với từng người ứng cử.
- Người ứng cử hoặc đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị có người ứng cử phát biểu ý kiến phản hồi, giải trình.
- Hội nghị tiến hành biểu quyết tín nhiệm (bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín).
- Thông qua biên bản hội nghị và tuyên bố kết thúc hội nghị.
5. Hiệu lực thi hành (Điều 6)
Nghị quyết liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI - CHÍNH PHỦ - ĐOÀN CHỦ TỊCH UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 02/2011/NQLT/UBTVQH-CP-ĐCTUBTWMTTQVN | Hà Nội, ngày 08 tháng 02 năm 2011 |
UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI - CHÍNH PHỦ - ĐOÀN CHỦ TỊCH UỶ BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
- Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2001/QH10, ngày 25/12/2001;
- Căn cứ Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 12/2003/QH11, ngày 26/11/2003;
- Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân số 63/2010/QH12, ngày 24/11/2010;
- Căn cứ Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
QUYẾT NGHỊ
Điều 1
Việc tổ chức hội nghị lấy ý kiến của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc và nơi cư trú về những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) được tiến hành theo quy định tại Nghị quyết này.
Điều 2
1. Việc lấy ý kiến của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tổ chức ở nơi những người ứng cử công tác hoặc làm việc. Nếu người ứng cử có nhiều nơi công tác hoặc nơi làm việc thì tổ chức lấy ý kiến của cử tri nơi người đó công tác hoặc làm việc thường xuyên. Việc tổ chức lấy ý kiến của cử tri được thực hiện như sau:
1.1. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác chuyên trách tại các cơ quan Đảng các cấp thì tổ chức lấy ý kiến hội nghị cử tri của văn phòng ở tổ chức đó. Đại diện ban lãnh đạo của cơ quan Đảng và đại diện Ban chấp hành công đoàn văn phòng triệu tập và chủ trì hội nghị.
Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác tại các Đảng ủy xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) thì tổ chức lấy ý kiến của Ban chấp hành Đảng bộ. Đại diện Ban thường vụ Đảng ủy cấp xã triệu tập và chủ trì hội nghị.
Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các cơ quan chuyên môn của tổ chức Đảng (các ban, học viện, trường Đảng, viện nghiên cứu...) thì lấy ý kiến hội nghị cử tri cơ quan của tổ chức đó. Đại diện ban lãnh đạo của các tổ chức trên và đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.
1.2. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội công tác ở các cơ quan Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội thì lấy ý kiến hội nghị cử tri của văn phòng các cơ quan đó. Đại diện ban lãnh đạo và đại diện Ban chấp hành công đoàn văn phòng triệu tập và chủ trì hội nghị.
Những người ứng cử đại biểu Quốc hội công tác ở Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, các cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước thì lấy ý kiến hội nghị cử tri của cơ quan đó. Đại diện ban lãnh đạo của cơ quan và đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.
Những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các cơ quan nhà nước: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các sở, ban, phòng và các cơ quan hành chính nhà nước khác thì lấy ý kiến hội nghị cử tri ở các cơ quan đó. Đại diện lãnh đạo cơ quan và đại diện Công đoàn triệu tập và chủ trì hội nghị.
1.3. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội công tác tại cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương thì lấy ý kiến hội nghị cử tri cơ quan của tổ chức đó. Đại diện ban lãnh đạo của tổ chức và đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.
Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác tại cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương thì lấy ý kiến hội nghị cử tri của cơ quan và ban thường vụ hoặc ban chấp hành của tổ chức đó. Đại diện ban lãnh đạo của tổ chức và đại diện Ban chấp hành công đoàn hoặc tổ công đoàn cơ quan triệu tập và chủ trì hội nghị.
1.4. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội công tác ở các tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp ở trung ương thì lấy ý kiến của hội nghị cử tri của cơ quan và ban thường vụ hoặc ban chấp hành của tổ chức đó. Đại diện ban lãnh đạo của tổ chức và đại diện Ban chấp hành công đoàn triệu tập và chủ trì hội nghị.
Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp ở địa phương thì lấy ý kiến hội nghị cử tri của cơ quan và Ban Thường vụ hoặc Ban chấp hành của tổ chức đó. Đại diện ban lãnh đạo của tổ chức và đại diện Ban chấp hành công đoàn hoặc tổ công đoàn triệu tập và chủ trì hội nghị.
1.5. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các đơn vị sự nghiệp thì lấy ý kiến hội nghị cử tri của đơn vị đó. Đại diện ban lãnh đạo đơn vị và đại diện Ban chấp hành công đoàn hoặc tổ công đoàn của đơn vị triệu tập và chủ trì hội nghị.
1.6. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các tổ chức kinh tế thì lấy ý kiến hội nghị cử tri của tổ chức đó. Đại diện lãnh đạo và đại diện Ban chấp hành công đoàn hoặc tổ công đoàn của tổ chức triệu tập và chủ trì hội nghị.
Trong trường hợp nơi công tác hoặc nơi làm việc của những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân chưa có tổ chức Công đoàn thì việc lấy ý kiến của hội nghị cử tri do đại diện lãnh đạo của tổ chức đó triệu tập và chủ trì.
1.7. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân công tác ở các đơn vị vũ trang nhân dân thì lấy ý kiến hội nghị cử tri của cơ quan hoặc hội nghị quân nhân của đơn vị đó. Đại diện lãnh đạo, chỉ huy đơn vị triệu tập và chủ trì hội nghị.
2. Số lượng cử tri tham dự hội nghị lấy ý kiến về những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở những nơi có dưới một trăm cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm ít nhất là hai phần ba tổng số cử tri tham dự. Nơi nào có từ một trăm cử tri trở lên thì không nhất thiết tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm ít nhất là bảy mươi cử tri tham dự.
3. Đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị có tổ chức công đoàn thì do Ban chấp hành công đoàn phân bổ số lượng người, tổ công đoàn cử đại diện dự họp. Đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị không có công đoàn thì các bộ phận chuyên môn cử người đại diện đến dự.
4. Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được mời dự hội nghị cử tri cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình công tác hoặc nơi làm việc.
Điều 3
1. Việc lấy ý kiến của hội nghị cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tổ chức ở nơi người ứng cử cư trú thường xuyên tại thôn, tổ dân phố (không phân biệt có hộ khẩu thường trú hay tạm trú dài hạn) do Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã phối hợp với Uỷ ban nhân dân cùng cấp triệu tập và chủ trì. Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp được mời dự hội nghị.
Những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị có những người ứng cử được mời dự hội nghị này.
2. Số lượng cử tri tham dự hội nghị lấy ý kiến về những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân nơi có dưới năm mươi cử tri thì tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm trên 50% số cử tri tham dự. Nơi nào có số cử tri từ năm mươi cử tri trở lên thì không nhất thiết tổ chức hội nghị toàn thể, nhưng phải bảo đảm ít nhất là bốn mươi cử tri tham dự. Thành phần dự hội nghị do Trưởng ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng Tổ dân phố để mời cử tri đến dự.
Trường hợp người tự ứng cử đại biểu Quốc hội, người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân có lý do chính đáng mà không đến dự hội nghị được thì uỷ quyền cho người đại diện của mình đến dự. Người được ủy quyền phải là người từ 21 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Khi đến dự hội nghị, người được ủy quyền phải báo cáo với hội nghị về lý do được ủy quyền, giải trình những vấn đề có liên quan đến người tự ứng cử mà hội nghị nêu lên; đồng thời không được lợi dụng diễn đàn hội nghị để tuyên truyền những nội dung trái với chính sách, pháp luật của nhà nước hoặc tuyên truyền vận động cho lợi ích cá nhân của người ủy quyền và phải tuân theo sự điều hành của người chủ trì hội nghị.
Điều 4
1. Tại hội nghị cử tri nơi công tác và nơi cư trú, cử tri đối chiếu với tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân để có ý kiến bày tỏ tín nhiệm đối với những người ứng cử. Việc biểu quyết bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do hội nghị quyết định.
2. Trong trường hợp hội nghị quyết định biểu quyết bằng cách bỏ phiếu kín, thì hội nghị cử ban kiểm phiếu từ ba đến năm người. Phiếu tín nhiệm của cử tri nơi công tác hoặc nơi làm việc phải có dấu của Ban chấp hành công đoàn hoặc của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó. Phiếu tín nhiệm của cử tri nơi cư trú phải có dấu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã hoặc của Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Trên phiếu tín nhiệm ghi rõ họ và tên những người ứng cử. Nếu có nhiều những người ứng cử thì ghi rõ họ và tên đầy đủ những những người ứng cử xếp theo vần chữ cái A, B, C... Cử tri gạch tên những người ứng cử mà mình không tín nhiệm.
3. Hội nghị cử tri phải có biên bản ghi rõ tổng số cử tri được triệu tập, số cử tri có mặt, ý kiến phát biểu và sự tín nhiệm của cử tri đối với từng những người ứng cử.
Biên bản hội nghị lấy ý kiến của cử tri về những những người ứng cử đại biểu Quốc hội được cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương giới thiệu thì gửi đến Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngay sau khi kết thúc hội nghị. Biên bản hội nghị lấy ý kiến cử tri về những những người ứng cử đại biểu Quốc hội của địa phương thì gửi đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh ngay sau khi kết thúc hội nghị.
Biên bản hội nghị lấy ý kiến của cử tri về những những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp bầu cử nào thì gửi đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp bầu cử đó ngay sau khi hội nghị kết thúc.
Điều 5
Chương trình hội nghị lấy ý kiến của cử tri đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội, những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành như sau:
1. Người chủ trì hội nghị tuyên bố lý do;
2. Giới thiệu thư ký hội nghị và phải được đa số cử tri dự hội nghị tán thành;
3. Báo cáo số cử tri được mời, số người có mặt;
4. Giới thiệu khách được mời dự hội nghị;
5. Giới thiệu danh sách những người ứng cử;
6. Thư ký đọc tiểu sử tóm tắt của từng người được giới thiệu ứng cử;
7. Đọc Điều 3 (quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội) và Điều 29 (quy định về những người không được ứng cử đại biểu Quốc hội) của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 đối với hội nghị lấy ý kiến cử tri về những người ứng cử đại biểu Quốc hội;
Đọc Điều 3 (quy định về tiêu chuẩn đại biểu Hội đồng nhân dân) và Điều 31 (quy định về những người không được ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân) của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 đối với hội nghị lấy ý kiến cử tri về những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
8. Cử tri phát biểu ý kiến đối với từng những người ứng cử;
9. Những người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị có những người ứng cử phát biểu ý kiến;
10. Hội nghị biểu quyết;
11. Thông qua biên bản và kết thúc hội nghị.
Điều 6
Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký.
| TM. UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | TM. CHÍNH PHỦ |
| TM. ĐOÀN CHỦ TỊCH | |
- 1 Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1997
- 2 Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam 1999
- 3 Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003
- 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- 5 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân sửa đổi 2010
- 6 Nghị định 54/2018/NĐ-CP về hướng dẫn việc lấy ý kiến cử tri về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính