Nghị quyết số 02/1998/NQ-CP được Chính phủ ban hành nhằm đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong tháng 1 năm 1998, đồng thời đề ra các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm cho thời gian tiếp theo. Đây là văn bản quan trọng định hướng điều hành vĩ mô của Chính phủ trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với nhiều thách thức đầu năm 1998.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết các nội dung cốt lõi của Nghị quyết:
- Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng 1 năm 1998
- Sản xuất nông nghiệp: Chính phủ ghi nhận các nỗ lực trong việc triển khai sản xuất vụ đông xuân. Tuy nhiên, thời tiết diễn biến phức tạp, đặc biệt là tình trạng khô hạn kéo dài tại nhiều địa phương đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ gieo cấy và sinh trưởng của cây trồng.
- Sản xuất công nghiệp: Nhìn chung giữ được đà tăng trưởng ổn định, song một số ngành hàng gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ và nguồn vốn đầu tư.
- Tài chính, tiền tệ và giá cả: Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả bước đầu nhưng còn nhiều dư địa cần khai thác. Chỉ số giá cả, thị trường tiền tệ được kiểm soát chặt chẽ, hạn chế biến động lớn trong dịp Tết Nguyên đán.
- Lĩnh vực văn hóa - xã hội: Công tác chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, người nghèo trong dịp Tết được thực hiện chu đáo. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
- Các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tiếp theo
- Tập trung chỉ đạo sản xuất nông nghiệp: Ưu tiên hàng đầu cho công tác phòng, chống hạn hán, bảo đảm đủ nước tưới cho vụ đông xuân. Đẩy mạnh việc cung ứng vật tư nông nghiệp, phân bón và phòng chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi.
- Tháo gỡ khó khăn cho sản xuất công nghiệp và xuất khẩu: Rà soát, đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu. Khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong nước.
- Quản lý chặt chẽ ngân sách nhà nước: Tăng cường công tác thu thuế, chống thất thu và nợ đọng thuế. Thực hiện triệt để chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu công, đặc biệt là chi tiêu hành chính và mua sắm tài sản công.
- Ổn định thị trường tài chính - tiền tệ: Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, kiểm soát tỷ giá và lạm phát ở mức hợp lý. Bảo đảm cung ứng đủ vốn cho các dự án trọng điểm và các ngành sản xuất mũi nhọn.
- Công tác xây dựng pháp luật và cải cách hành chính
- Hoàn thiện thể chế: Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương hoàn thiện các dự thảo luật, pháp lệnh để trình Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo đúng chương trình nghị sự.
- Đẩy mạnh cải cách hành chính: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành của bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp.
Tóm lại, Nghị quyết số 02/1998/NQ-CP thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy sản xuất kinh doanh ngay từ những tháng đầu năm, đồng thời chú trọng giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và cải cách bộ máy hành chính nhà nước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 02/1998/NQ-CP | Hà Nội, ngày 26 tháng 01 năm 1998 |
Trong hai ngày 23 và 24 tháng 01 năm 1998, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 01 năm 1998 thảo luận và quyết nghị các vấn đề sau:
I. CHÍNH SÁCH, BIỆN PHÁP KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU
Chính phủ đã xem xét tờ trình của Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển về “Chính sách, biện pháp khuyến khích xuất khẩu” và quyết định một số biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích và tạo mọi điều kiện để tăng nhanh xuất khẩu.
1. Giao Bộ Thương mại tiếp thu các ý kiến tại phiên họp này, hoàn thiện các đề án để trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành trong tháng 02 năm 1998, trong đó có danh mục một số mặt hàng khi xuất khẩu phải có giấy phép kinh doanh xuất khẩu; số lượng các mặt hàng thuộc danh mục này phải rất hạn chế và các hàng hóa khác ngoài danh mục sẽ được tự do xuất khẩu với thủ tục đơn giản theo đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Giao Bộ Tài chính trình Chính phủ sửa đổi các văn bản có liên quan để thực hiện việc:
- Không thu thuế lợi tức bổ sung đối với các cơ sở sản xuất nếu xuất khẩu trên 50% sản phẩm sản xuất ra hoặc có doanh thu từ xuất khẩu chiếm trên 50% tổng doanh thu;
- Áp dụng thuế suất thấp nhất trong khung thuế suất đối với một số mặt hàng cần khuyến khích xuất khẩu như gạo, thủy sản, cao su, than đá…
Việc kéo dài thời hạn (đến 1 năm) nộp thuế nhập khẩu khi nhập vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu cần được thể hiện vào Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
3. Giao Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Hải quan thực hiện các biện pháp nhằm đơn giản và công khai hóa quy trình, thủ tục giải quyết các công việc liên quan, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Các công việc nói tại điểm 2 và 3 trên đây phải hoàn thành trong quý I năm 1998.
4. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Thương mại, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan nghiên cứu trình Chính phủ điều chỉnh, sửa đổi các quy định về những vấn đề sau đây:
a) Khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào các ngành chế biến hàng nông sản, thủy sản và lâm sản có nguồn gốc rừng trồng, để xuất khẩu. Khuyến khích và có ưu đãi hơn đối với các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu dùng nhiều nguyên liệu trong nước, tạo được nhiều công việc làm và đầu tư đổi mới công nghệ để có sản phẩm xuất khẩu chất lượng cao.
b) Áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư ở mức cao nhất cho sản xuất hàng xuất khẩu; mở rộng các hình thức bảo lãnh và đối tượng được hưởng bảo lãnh tín dụng xuất khẩu của Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia.
c) Xây dựng các cơ chế cần thiết và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt
5. Giao Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Thương mại và các cơ quan có liên quan nghiên cứu đề án thành lập Quỹ tín dụng xuất khẩu để cấp tín dụng ưu đãi và bảo lãnh tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam; trước mắt, có thể sử dụng một phần ngân sách từ Quỹ bình ổn giá để hỗ trợ thành lập quỹ này; chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thành lập Ngân hàng xuất nhập khẩu.
6. Giao Bộ Thương mại phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tổ chức lại các hiệp hội ngành hàng, xây dựng quỹ phát triển ngành hàng và thực hiện ngay đối với các mặt hàng gạo, cà phê. Nghiên cứu lập quỹ thưởng xuất khẩu để thưởng cho các doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu lớn, tìm được thị trường và sản phẩm xuất khẩu mới…Quy định cụ thể về hoạt động môi giới và hoa hồng môi giới trong thương mại, phù hợp với luật pháp Việt Nam và thông lệ quốc tế theo Nghị quyết của Chính phủ số 59-CP ngày 05-06-1997 để khuyến khích các tổ chức, cá nhân, kể cả tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, tìm thị trường xuất khẩu cho hàng hóa Việt Nam.
Các công việc nói tại điểm 4, 5 và 6 trên đây phải hòan thành trong quý II năm 1998.
II. CÔNG TÁC XÂY DỰNG PHÁP LUẬT
1. Thông qua Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Ngân sách nhà nước, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Dự án Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng trình với các ý kiến bổ sung trong phiên họp này. Giao Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan, hòan chỉnh các Dự án Luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Thông qua Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá trình với các ý kiến bổ sung tại phiên họp này. Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan, hoàn chỉnh Dự án Luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trong quá trình hoàn chỉnh các Dự án Luật nêu tại điểm 1, 2 trên đây, các Bộ cần tranh thủ thêm ý kiến của các doanh nghiệp để bảo đảm tính khả thi cao.
3. Đối với Dự án Luật Khiếu nại, tố cáo, Chính phủ giao Thanh tra Nhà nước phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan, căn cứ kết quả Phiếu lấy ý kiến của các thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh Dự án Luật báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chính phủ đã nghe Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Xuân Giá thông báo về tình hình khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở các nước Đông Nam Á và đã quyết định một số chủ trương, biện pháp bổ sung nhằm hạn chế tác động đến nền kinh tế Việt Nam, tiếp tục phát triển sản xuất, tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, triệt để tiết kiệm trong sản xuất, xây dựng và đời sống, dành nguồn lực cho đầu tư phát triển, giữ vững ổn định tài chính – tiền tệ.
| TM. CHÍNH PHỦ |
- 1 Thông tư 83/1998/TT-BTC hướng dẫn hoàn thuế doanh thu nguyên vật liệu và bán hàng thành phẩm mua của cơ sở sản xuất để sản xuất hàng xuất khẩu do Bộ tài chính ban hành
- 2 Thông tư 160/1998/TT-BTC bổ sung Thông tư 83/1998/TT-BTC hướng dẫn hoàn thuế doanh thu nguyên vật liệu và bán hàng thành phẩm mua của cơ sở sản xuất để sản xuất hàng xuất khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2 Nghị quyết số 86/1997/NQ-CP về phiên họp thường kỳ tháng 7 năm 1997 của Chính phủ do Chính phủ ban hành
- 3 Nghị quyết số 99/1997/NQ-CP về phiên họp thường kỳ tháng 9 năm 1997 của Chính phủ do Chính phủ ban hành
- 4 Nghị quyết số 04/1998/NQ-CP về việc phiên họp thường kỳ tháng 3 năm 1998 của Chính phủ do Chính phủ ban hành
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2 Nghị quyết số 86/1997/NQ-CP về phiên họp thường kỳ tháng 7 năm 1997 của Chính phủ do Chính phủ ban hành
- 3 Nghị quyết số 99/1997/NQ-CP về phiên họp thường kỳ tháng 9 năm 1997 của Chính phủ do Chính phủ ban hành
- 4 Nghị quyết số 04/1998/NQ-CP về việc phiên họp thường kỳ tháng 3 năm 1998 của Chính phủ do Chính phủ ban hành
- 5 Thông tư 83/1998/TT-BTC hướng dẫn hoàn thuế doanh thu nguyên vật liệu và bán hàng thành phẩm mua của cơ sở sản xuất để sản xuất hàng xuất khẩu do Bộ tài chính ban hành
- 6 Thông tư 160/1998/TT-BTC bổ sung Thông tư 83/1998/TT-BTC hướng dẫn hoàn thuế doanh thu nguyên vật liệu và bán hàng thành phẩm mua của cơ sở sản xuất để sản xuất hàng xuất khẩu do Bộ Tài chính ban hành