Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Nghị quyết số 10/2001/NQ-CP được Chính phủ ban hành nhằm ghi nhận kết quả và quyết nghị các vấn đề quan trọng tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 năm 2001 (diễn ra trong hai ngày 30 và 31 tháng 8 năm 2001). Nghị quyết này tập trung đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2001, đồng thời thảo luận, cho ý kiến về các dự án luật quan trọng liên quan đến bộ máy nhà nước và đề ra các giải pháp trọng tâm cho những tháng cuối năm.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị quyết áp dụng đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước.

Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2001

  • Chính phủ nhất trí đánh giá nền kinh tế tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định. Sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá; sản xuất nông nghiệp đạt kết quả tốt dù gặp thiên tai; xuất khẩu có nhiều nỗ lực trong bối cảnh thị trường thế giới suy giảm; thu ngân sách nhà nước đạt tiến độ kế hoạch.
  • Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn lớn: giá cả một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực giảm mạnh; tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm; tình hình tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp; thiên tai, lũ lụt gây thiệt hại lớn tại một số địa phương.

Các giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển những tháng cuối năm 2001

  • Thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu: Tập trung tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản cho nông dân. Tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu mới, tận dụng tối đa các hiệp định thương mại đã ký kết.
  • Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản: Các Bộ, ngành và địa phương phải tập trung chỉ đạo, giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thủ tục, đền bù giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn ngân sách nhà nước và vốn ODA.
  • Công tác phòng, chống lụt bão và khắc phục hậu quả thiên tai: Chủ động triển khai các phương án phòng, chống lũ lụt tại đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Trung, miền Bắc. Kịp thời hỗ trợ nhân dân ổn định đời sống và khôi phục sản xuất sau thiên tai.
  • Quản lý tài chính - ngân sách: Tăng cường công tác chống thất thu thuế, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Triệt để tiết kiệm chi ngân sách, bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước cả năm.

Công tác xây dựng pháp luật và cải cách hành chính

  • Dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi): Chính phủ đã thảo luận và thống nhất các nội dung cơ bản của dự thảo Luật để trình Quốc hội. Dự thảo hướng tới việc làm rõ chức năng quản lý nhà nước của Chính phủ, tăng cường tính chủ động, phân cấp mạnh mẽ cho các Bộ và địa phương, đồng thời tinh gọn bộ máy hành chính.
  • Dự án Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi): Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo việc hoàn thiện dự thảo luật này nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương các cấp, phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp chính quyền.
  • Dự thảo Nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ: Giao Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ để hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, làm cơ sở pháp lý cho việc sắp xếp lại bộ máy các Bộ, ngành theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

Hiệu lực thi hành: Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung của Nghị quyết.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 10/2001/NQ-CP

Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2001

NGHỊ QUYẾT

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 10/2001/NQ-CP NGÀY 31 THÁNG 8 NĂM 2001 PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 8 NĂM 2001

Trong hai ngày, 29 và 30 tháng 8 năm 2001, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 8, thảo luận và quyết nghị các vấn đề sau đây:

1. Chính phủ nghe Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện trình bày "Chiến lược phát triển bưu chính - viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020".

Trong những năm đổi mới, đặc biệt là trong mấy năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quyết sách chiến lược, định hướng cho việc phát triển ngành bưu chính, viễn thông. Ngành đã có bước phát triển nhanh, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tuy nhiên cũng bộc lộ một số tồn tại cần khắc phục và đổi mới như chưa thực sự quan tâm đào tạo nguồn nhân lực, giá dịch vụ cao, chất lượng phục vụ còn hạn chế, chưa tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.

Trong giai đoạn tới, việc xây dựng và phát triển bưu chính, viễn thông Việt Nam cần phải đáp ứng các yêu cầu về công nghệ hiện đại, bảo đảm khả năng cạnh tranh ngang tầm về công nghệ và giá cả với các nước trong khu vực, tạo tiền đề cho việc thực hiện thành công những mục tiêu, chủ trương của Đảng và Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin nói riêng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia nói chung. Chiến lược phát triển bưu chính - viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cần phải có các giải pháp cụ thể để phát huy mọi nguồn lực của đất nước, của các thành phần kinh tế, đó là các giải pháp về vốn, nguồn nhân lực... để phát triển nhanh, nâng cao năng suất và chất lượng, giảm giá dịch vụ.

Giao Tổng cục Bưu điện chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan, tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh dự thảo quyết định "Chiến lược phát triển bưu chính - viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020", trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt trong tháng 9 năm 2001.

2. Chính phủ thông qua Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2002 của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình. Giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan, tiếp thu ý kiến đóng góp của các thành viên Chính phủ, rà soát lại tiến độ, chất lượng và đánh giá tính khả thi của từng dự án; cần xác định thứ tự ưu tiên cho các dự án luật xây dựng mới, trước hết là các dự án nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tiếp đến là các dự án cần có để phục vụ quá trình hội nhập quốc tế. Sau khi hoàn chỉnh, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

3. Chính phủ nghe Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ báo cáo về Dự án Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Dự án Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi), Dự án Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân (sửa đổi) và đã thảo luận cho ý kiến về 3 Dự án Luật này.

Chính phủ giao Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan, tiếp thu ý kiến đóng góp của các thành viên Chính phủ, chỉnh lý và hoàn thiện các Dự án Luật nêu trên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội.

4. Chính phủ nghe Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ trình bày Báo cáo tổng kết chính sách tiền lương và trợ cấp xã hội.

Chính phủ thống nhất đánh giá, từ năm 1993 đến nay, chính sách tiền lương và trợ cấp xã hội đã được điều chỉnh một bước, thực hiện phân phối công bằng hơn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác. Tuy nhiên, chính sách tiền lương vẫn bộc lộ nhiều tồn tại, dẫn đến tình trạng thu nhập ngoài lương ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập của một bộ phận cán bộ, công chức, công nhân viên; chênh lệch về thu nhập ngoài lương giữa các ngành, các cơ quan, đơn vị rất lớn...Chính sách bảo hiểm xã hội và chính sách ưu đãi người có công cũng còn những mặt cần xem xét, điều chỉnh cho phù hợp hơn.

Giao Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, tiến hành điều tra, nghiên cứu, đánh giá tình hình một cách khoa học và có hệ thống, hoàn chỉnh Báo cáo và chuẩn bị tham gia xây dựng đề án cải cách tiền lương, thu nhập, việc làm thời kỳ 2001 - 2005, trình Hội nghị Trung ương. Trước mắt, tập trung thực hiện một số biện pháp sau: tách rõ khu vực hành chính với sự nghiệp để có cơ chế quản lý và chính sách cho phù hợp; thực hiện phân cấp quản lý biên chế, giao quyền tự chủ cho cơ sở; thực hiện khoán biên chế và chi phí hành chính.

5. Sau khi xem xét Tờ trình của Văn phòng Chính phủ về một số vấn đề liên quan đến quản lý chất lượng và kiểm tra chất lượng, trong đó có vấn đề kiểm tra chất lượng mũ bảo hiểm người đi xe máy, Chính phủ quyết định: mũ bảo hiểm người đi xe máy là loại hàng hoá bắt buộc phải áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam; Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện quản lý nhà nước về chất lượng mũ bảo hiểm người đi xe máy; việc giám định tiêu chuẩn chất lượng mũ bảo hiểm là hoạt động dịch vụ...Chính phủ giao Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Giao thông vận tải và các cơ quan liên quan, tổ chức triển khai thực hiện.

6. Tại phiên họp này, Bộ trưởng Bộ Thương mại báo cáo Chính phủ một số tình hình về xuất khẩu gạo năm 2001. Trong 8 tháng đầu năm 2001, xuất khẩu gạo tăng hơn cùng kỳ năm 2000 cả về lượng và giá trị. Tuy nhiên, tình hình buôn bán gạo trên thị trường thế giới vẫn tiếp tục trầm lắng, giá gạo cải thiện không đáng kể. Tình hình này sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của nước ta trong những tháng cuối năm 2001. Đối với chủ trương mua gạo tạm trữ của Chính phủ, tính đến 30/4/2001 các doanh nghiệp được Chính phủ giao trách nhiệm mua gạo tạm trữ đã mua đạt yêu cầu, cả về số lượng cũng như thời gian.

Chính phủ quyết định không kéo dài thêm 6 tháng thời gian tạm trữ gạo xuất khẩu trong năm 2001; mức xuất khẩu gạo năm 2001 khoảng 3,5 triệu tấn nhằm tiêu thụ hết lúa hàng hoá, với giá có lợi cho nông dân. Chính phủ lưu ý các cơ quan thông tin đại chúng rút kinh nghiệm trong việc đưa tin, đặc biệt là các thông tin liên quan đến thương mại, tránh gây ảnh hưởng không tốt cho công tác quản lý và chỉ đạo của Chính phủ, hoạt động của các doanh nghiệp, tâm lý và lợi ích của nhân dân.

7. Tại phiên họp này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ "Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2001".

Trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2001, mặc dù chúng ta đã đạt được một số tiến bộ như thu ngân sách khá, sản xuất công nghiệp vẫn duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao, thực hiện khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và tạo việc làm có tiến bộ... Tuy nhiên, một số lĩnh vực vẫn trong tình trạng khó khăn về sản xuất, tiêu thụ như dệt may, da giày, sản xuất phân bón...; nhịp tăng của hầu hết các chỉ tiêu thực hiện đều thấp hơn so với cùng kỳ năm 2000, nhất là tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu.

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, trong những tháng còn lại của năm 2001 cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ các giải pháp đã được nêu trong Nghị quyết số 05/2001/NQ-CP của Chính phủ nhằm thực hiện tốt các chỉ tiêu chủ yếu đã đề ra.

Phan Văn Khải

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết số 10/2001/NQ-CP về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 năm 2001 do Chính phủ ban hành

Số hiệu: 10/2001/NQ-CP
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 31/08/2001
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 08/10/2001
Số công báo: Số 37
Ngày hiệu lực: 15/09/2001
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết số 10/2001/NQ-CP về Phiên họp Chín...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký