Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Ngày 10 tháng 11 năm 2004, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 13/2004/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2004. Nghị quyết này tập trung đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thảo luận các giải pháp điều hành trong những tháng cuối năm và cho ý kiến về các dự án luật quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế pháp luật.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị quyết áp dụng đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng pháp luật của Chính phủ.

Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng đầu năm 2004

  • Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế của cả năm.
  • Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến thất thường và dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, nhưng các địa phương đã chủ động triển khai các biện pháp khắc phục hiệu quả.
  • Hoạt động thương mại và dịch vụ phát triển mạnh mẽ, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng vượt bậc so với cùng kỳ năm trước.
  • Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả khả quan, đảm bảo các nhu cầu chi tiêu thường xuyên và đầu tư phát triển.
  • Bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức lớn như chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản còn chậm, tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội chưa được kiềm chế triệt để.

Các giải pháp điều hành kinh tế - xã hội những tháng cuối năm

  • Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các ngành công nghiệp mũi nhọn và các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh.
  • Tăng cường quản lý thị trường, kiểm soát giá cả các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, sắt thép, xi măng, phân bón, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng gây bất ổn thị trường.
  • Đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đối với các công trình, dự án trọng điểm quốc gia sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ.
  • Chủ động phương án phòng chống thiên tai, bão lụt, hạn hán; tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh ở người và động vật, bảo đảm ổn định đời sống nhân dân.

Công tác xây dựng pháp luật và hoàn thiện thể chế

  • Dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi): Chính phủ thống nhất về nguyên tắc các nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, thúc đẩy giao lưu dân sự và sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Dự án Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân: Xác định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp địa phương, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật quốc gia.
  • Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi): Hoàn thiện các quy định về giao đất, giao rừng, cho thuê rừng, bảo đảm quyền lợi của người làm nghề rừng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên rừng.
  • Dự án Luật An ninh quốc gia: Quy định cụ thể về chính sách an ninh quốc gia, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ chủ quyền và an ninh đất nước.

Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí

  • Yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là trong các lĩnh vực đất đai, xây dựng, thuế và hải quan.
  • Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong cơ quan nhà nước các cấp.
  • Thực hiện nghiêm túc các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Hiệu lực thi hành

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 13/2004/NQ-CP

Hà Nội , ngày 03 tháng 11 năm 2004

NGHỊ QUYẾT

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 13/2004/NQ-CP NGÀY 03 THÁNG 11 NĂM 2004 PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 10 NĂM 2004

Ngày 01 tháng 11 năm 2004, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 10, thảo luận và quyết nghị các vấn đề sau đây:

1. Chính phủ đã nghe Bộ trưởng Bộ Tư pháp trình dự thảo Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991; nghe Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo tổng hợp ý kiến thành viên Chính phủ về dự thảo Nghị quyết.

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20 tháng 8 năm 1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập từ trước ngày 01 tháng 7 năm 1991, tuy nhiên, Nghị quyết không áp dụng đối với những giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân được xác lập từ ngày 01 tháng 7 năm 1991 nhưng có sự tham gia của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài. Trong thời gian qua, vấn đề này đã gây khó khăn trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giải quyết cho cải tạo, nâng cấp, xây mới hoặc giải quyết tranh chấp về nhà ở...; ảnh hưởng đến công tác quy hoạch đô thị và phát triển thị trường nhà, đất. Một số địa phương, do bức xúc về vấn đề này đã có những giải quyết, xử lý riêng dẫn đến sự không thống nhất về chính sách trên cả nước. Thực tiễn trên đòi hỏi cần có Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các giao dịch dân sự về nhà ở thuộc sở hữu tư nhân có yếu tố nước ngoài được xác lập từ trước ngày 01 tháng 7 năm 1991; tạo sự thống nhất, đồng bộ trong chính sách của nhà nước và bảo đảm thực hiện đầy đủ Bộ luật Dân sự.

Giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan, tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh dự thảo Nghị quyết, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Nội dung Nghị quyết phải bảo đảm cụ thể, rõ ràng để sau khi Nghị quyết được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua sẽ có đủ căn cứ để thực hiện ngay mà không cần Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn.

2. Chính phủ nghe Bộ Công an trình dự án Pháp lệnh Cảnh vệ; nghe Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo tổng hợp ý kiến thành viên Chính phủ về dự án Pháp lệnh.

Việc bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cơ quan trọng yếu, các đồng chí lãnh đạo cấp cao, khách quốc tế của Đảng và Nhà nước luôn là nhiệm vụ quan trọng, liên quan trực tiếp đến sự ổn định chính trị đất nước và các hoạt động đối ngoại, đối nội của Đảng và Nhà nước ta. Qua mỗi chặng đường lịch sử, Đảng và Nhà nước đã ban hành kịp thời các văn bản quy định về yêu cầu, nhiệm vụ của công tác cảnh vệ phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, chỉ đạo bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan trọng yếu, các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Tuy nhiên, các văn bản trên còn nhiều vấn đề thiếu cụ thể, chưa có giá trị pháp lý cao. Để tạo hành lang pháp lý và cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác cảnh vệ; nâng cao trách nhiệm và sức mạnh của lực lượng cảnh vệ, cần sớm ban hành Pháp lệnh Cảnh vệ.

Giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và các cơ quan liên quan, tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh dự án Pháp lệnh; Bộ trưởng Bộ Công an, thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ, trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội dự án Pháp lệnh này.

3. Chính phủ nghe Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình dự án Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; nghe Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo tổng hợp ý kiến các thành viên Chính phủ về dự án Pháp lệnh.

Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được ban hành năm 1994 đã tạo sự đoàn kết, đồng thuận trong nhân dân trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; có tác dụng sâu sắc đến việc giáo dục truyền thống, tình cảm, trách nhiệm của mỗi người dân và xã hội cùng với Nhà nước chăm lo cho người có công; tăng cường ổn định chính trị và thúc đẩy công cuộc đổi mới đất nước. Trong quá trình thực hiện, để phù hợp với thực tế đời sống, Pháp lệnh đã được sửa đổi nhiều lần, nhưng đến nay vẫn còn những điểm chưa hợp lý cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện với tên gọi mới là "Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng".

Giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh dự án Pháp lệnh; Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ trình ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án Pháp lệnh này.

4. Chính phủ đã thảo luận về đề xuất của Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại Công văn số 1175/BXD-KTTC, ngày 30 tháng 7 năm 2004 về cơ chế vốn cho các dự án đầu tư sản xuất xi măng.

Để khuyến khích các nhà đầu tư sản xuất xi măng tại các vùng có điều kiện khó khăn, đồng thời giúp các địa phương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, Chính phủ nhất trí về chủ trương cho các dự án đầu tư sản xuất xi măng có sản xuất clinke tại các vùng khó khăn (miền núi, vùng sâu, vùng xa) được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước với mức không quá 30% tổng mức đầu tư của dự án để sản xuất clinke và mua thiết bị sản xuất trong nước. Chủ trương trên chỉ áp dụng đối với các dự án mới. Việc đầu tư sản xuất xi măng phải theo đúng quy hoạch, bảo đảm có lãi và hỗ trợ địa phương chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển đời sống xã hội.

5. Chính phủ nghe báo cáo kết quả giao ban sản xuất, xuất nhập khẩu, đầu tư tháng 10 và tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2004 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình; báo cáo về tình hình thương mại tháng 10 năm 2004 do Bộ Thương mại trình; báo cáo sơ kết một năm thực hiện cơ chế "một cửa" theo Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ do Bộ Nội vụ trình; báo cáo công tác thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo Quý 3 năm 2004 do Thanh tra Chính phủ trình.

Chính phủ nhất trí thông qua các Báo cáo trên.

Tình hình kinh tế - xã hội trong tháng 10 và 10 tháng đầu năm vẫn tiếp tục chuyển biến tích cực; sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nông nghiệp phát triển, đặc biệt là lương thực; lĩnh vực dịch vụ có nhiều tiến bộ, xuất khẩu tăng mạnh, nhập siêu giảm; thu ngân sách nhà nước bảo đảm tiến độ, đáp ứng yêu cầu chi; nhiều mặt hoạt động xã hội phát triển theo hướng tích cực. Hội nghị ASEM 5 được tổ chức ở nước ta đã thành công tốt đẹp, đây là đóng góp tích cực nhất của chúng ta đối với ASEM từ trước tới nay và cũng là sự khẳng định chủ trương chủ động hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, tình hình trong nước và thế giới còn những khó khăn tiềm ẩn như giá vật tư, hàng hoá nhập khẩu, nhất là giá xăng, dầu tăng, thời tiết diễn biến phức tạp, tiến độ giải ngân vốn đầu tư, kể cả vốn tín dụng và vốn trái phiếu Chính phủ đạt thấp, tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông còn xảy ra nghiêm trọng ...

Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương bám sát các diễn biến của tình hình thực tế, xử lý kịp thời, chỉ đạo thực hiện nghiêm các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội mà Chính phủ đã đề ra trong Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP , Quyết định số 51/2004/QĐ-TTg , các Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ và các văn bản chỉ đạo điều hành khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt chú ý các biện pháp kiềm chế tốc độ tăng giá, phòng chống thiên tai, dịch bệnh cho người và gia súc; tăng cường khâu kiểm tra, thanh tra các dự án đầu tư, thực hiện chặt chẽ quy trình giám sát đầu tư, kịp thời phát hiện, xử lý các vướng mắc, sai phạm phát sinh trong đầu tư xây dựng cơ bản; khai thác triệt để các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng trong mọi lĩnh vực, trong mọi sản phẩm nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2004.

Phan Văn Khải

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết số 13/2004/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2004 do Chính phủ ban hành

Số hiệu: 13/2004/NQ-CP
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 03/11/2004
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Số 8
Ngày hiệu lực: 27/11/2004
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết số 13/2004/NQ-CP về phiên họp Chín...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký