Nghị quyết số 33/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009. Đây là văn bản pháp lý quan trọng quy định chi tiết về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999, hướng dẫn cụ thể về hiệu lực thi hành, nguyên tắc áp dụng các quy định mới theo hướng có lợi cho người phạm tội, cũng như lộ trình rà soát hệ thống văn bản pháp luật liên quan.
- Quy định áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự từ ngày 01/01/2010
Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, việc áp dụng các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được thực hiện thống nhất theo các nguyên tắc sau:
- Áp dụng toàn bộ các điều khoản của Luật sửa đổi, bổ sung để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với những người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010.
- Đối với các hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích: Áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội. Cụ thể bao gồm điểm b khoản 2, các khoản 4, 8, 32 Điều 1 sửa đổi, bổ sung các điều 140, 84, 161, 248 của Bộ luật Hình sự và các quy định có lợi khác.
- Không áp dụng các quy định không có lợi cho người phạm tội đối với các hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010. Trong trường hợp này, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn áp dụng các điều khoản tương ứng của Bộ luật Hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung để giải quyết. Các điều khoản không có lợi được xác định bao gồm các khoản 5, 6, 7, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 34 Điều 1 sửa đổi, bổ sung các điều 119, 120, 160, 164a, 164b, 170a, 171, 174, 181a, 181b, 181c, 182, 182a, 182b, 185, 190, 191, 191a, 202, 224, 225, 226, 226a, 226b, 230a, 230b, 251 của Bộ luật Hình sự.
- Đối với các vụ án đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010: Không được căn cứ vào các quy định mới có nội dung khác so với điều luật đã áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm. Trường hợp kháng nghị dựa trên căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2010 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân thủ nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nêu trên.
- Chính sách nhân đạo về hình phạt tử hình từ ngày công bố Luật sửa đổi
Ngay từ thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được công bố, chính sách giảm thiểu hình phạt tử hình được áp dụng ngay lập tức:
- Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại: Khoản 3 Điều 111, khoản 4 Điều 139, khoản 4 Điều 153, khoản 3 Điều 180, khoản 4 Điều 197, khoản 3 Điều 221, khoản 4 Điều 289 và khoản 4 Điều 334 của Bộ luật Hình sự.
- Đối với những người đã bị tuyên hình phạt tử hình thuộc các trường hợp nêu trên nhưng chưa thi hành án: Không thực hiện thi hành án tử hình. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chuyển hình phạt tử hình của các đối tượng này xuống hình phạt tù chung thân.
- Quy định về phi hình sự hóa đối với một số hành vi
Nghị quyết quy định cụ thể các hành vi không còn bị xử lý về mặt hình sự kể từ ngày Luật sửa đổi được công bố:
- Không xử lý hình sự đối với các hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199); Ở lại nước ngoài trái phép (Điều 274); Các hành vi xâm phạm quyền tác giả (Điều 131); Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171), ngoại trừ hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý.
- Không xử lý hình sự đối với các hành vi có giá trị tài sản hoặc thiệt hại dưới mức định lượng tối thiểu mới (trừ trường hợp có yếu tố định tội khác):
- Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 các điều 137, 138, 139, 278 và 280.
- Tài sản phạm tội có giá trị dưới hai triệu đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 các điều 279, 283, 289, 290 và 291.
- Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới bốn triệu đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều 140.
- Tài sản bị chiếm giữ trái phép có giá trị dưới mười triệu đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều 141.
- Thiệt hại có giá trị dưới hai triệu đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều 143.
- Số tiền trốn thuế dưới một trăm triệu đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều 161.
- Số tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc có giá trị dưới hai triệu đồng đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều 248.
- Không xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi theo các tình tiết định tội cũ đã bị bãi bỏ:
- Hành vi quy định tại khoản 1 các điều 171, 182, 183, 184, 185, 191 và 248 theo tình tiết "đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm".
- Hành vi quy định tại khoản 1 các điều 224, 225 và 226 theo tình tiết "đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm".
- Biện pháp xử lý chuyển tiếp và đương nhiên xóa án tích
Để giải quyết quyền lợi cho những người thuộc diện không bị xử lý hình sự theo quy định mới, Nghị quyết đưa ra các biện pháp xử lý chuyển tiếp đồng bộ:
- Đình chỉ vụ án đối với các trường hợp quy định tại mục phi hình sự hóa nêu trên nếu vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử.
- Miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án.
- Miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án.
- Đương nhiên được xóa án tích đối với những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt còn lại theo các quy định chuyển tiếp này.
- Tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành
Nghị quyết giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan tư pháp trung ương nhằm bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả khi triển khai thực hiện:
- Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tự mình hoặc phối hợp tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.
- Các cơ quan nêu trên phối hợp với các cơ quan hữu quan tiếp tục nghiên cứu các điều khoản của Bộ luật Hình sự còn vướng mắc, bất cập trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm để chuẩn bị phương án cho việc sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật Hình sự trong tương lai.
- Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành các nội dung của Nghị quyết này theo đúng thẩm quyền luật định.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 33/2009/QH12 | Hà Nội, ngày 19 tháng 6 năm 2009 |
VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
QUỐC HỘI
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10,
QUYẾT NGHỊ
Điều 1.
1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được áp dụng như sau:
a) Tất cả các điều khoản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010;
b) Điểm b khoản 2, các khoản 4, 8, 32 Điều 1 sửa đổi, bổ sung các điều 140, 84, 161, 248 của Bộ luật hình sự và các quy định khác có lợi cho người phạm tội được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích;
c) Các khoản 5, 6, 7, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 34 Điều 1 sửa đổi, bổ sung các điều 119, 120, 160, 164a, 164b, 170a, 171, 174, 181a, 181b, 181c, 182, 182a, 182b, 185, 190, 191, 191a, 202, 224, 225, 226, 226a, 226b, 230a, 230b, 251 của Bộ luật hình sự và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng các điều khoản tương ứng của Bộ luật hình sự chưa được sửa đổi, bổ sung để giải quyết;
d) Đối với những hành vi phạm tội được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 01 năm 2010 và đã có bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, thì không được căn cứ vào những quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2010, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản này.
2. Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được công bố:
a) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm các tội quy định tại khoản 3 Điều 111, khoản 4 Điều 139, khoản 4 Điều 153, khoản 3 Điều 180, khoản 4 Điều 197, khoản 3 Điều 221, khoản 4 Điều 289 và khoản 4 Điều 334 của Bộ luật hình sự.
Hình phạt tử hình đã tuyên đối với những người được nêu tại điểm này nhưng chưa thi hành thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình xuống hình phạt tù chung thân;
b) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện một trong các hành vi sau đây:
b.1. Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 199 của Bộ luật hình sự;
b.2. ở lại nước ngoài trái phép quy định tại Điều 274 của Bộ luật hình sự;
b.3. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả quy định tại Điều 131 của Bộ luật hình sự;
b.4. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự, trừ hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý;
c) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện một trong các hành vi sau đây, trừ trường hợp có yếu tố định tội khác:
c.1. Hành vi quy định tại khoản 1 các điều 137, 138, 139, 278 và 280 của Bộ luật hình sự mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới hai triệu đồng;
c.2. Hành vi quy định tại khoản 1 các điều 279, 283, 289, 290 và 291 của Bộ luật hình sự mà tài sản phạm tội có giá trị dưới hai triệu đồng;
c.3. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 140 mà tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới bốn triệu đồng;
c.4. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 141 của Bộ luật hình sự mà tài sản bị chiếm giữ trái phép có giá trị dưới mười triệu đồng;
c.5. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 143 mà thiệt hại có giá trị dưới hai triệu đồng;
c.6. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 161 mà số tiền trốn thuế dưới một trăm triệu đồng;
c.7. Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 248 mà số tiền hoặc hiện vật đánh bạc có giá trị dưới hai triệu đồng;
đ) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 các điều 171, 182, 183, 184, 185, 191 và 248 của Bộ luật hình sự theo tình tiết "đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm", hành vi quy định tại khoản 1 các điều 224, 225 và 226 của Bộ luật hình sự theo tình tiết "đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính mà còn vi phạm";
đ) Trong trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản này, nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;
e) Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại quy định tại điểm đ khoản này thì đương nhiên được xoá án tích.
Điều 2.
1. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các văn bản có liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự; phối hợp với các cơ quan hữu quan tiếp tục nghiên cứu các điều khoản của Bộ luật hình sự có vướng mắc, bất cập trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm mà chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung để chuẩn bị phương án cho việc sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự.
2. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2009.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1 Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2 Hiến pháp năm 1992
- 3 Bộ Luật Hình sự 1999
- 4 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009
- 5 Công văn số 105/TANDTC-KHXX về việc thi hành khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12 của Quốc hội do Tòa án nhân dân Tối cao ban hành
- 6 Quyết định 272/QĐ-TTg năm 2016 Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Hình sự do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 7 Luật sửa đổi Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Các tổ chức tín dụng 2024