Ngày 25 tháng 11 năm 2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua Nghị quyết số 35/2004/QH11 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005. Đây là văn bản pháp lý quan trọng định hình toàn bộ lộ trình lập pháp của Việt Nam trong năm 2005, phân định rõ ràng các dự án luật, pháp lệnh cần thông qua hoặc cho ý kiến, đồng thời bổ sung các dự án mới vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2002-2007).
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị quyết áp dụng đối với Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan soạn thảo, trình dự án luật, pháp lệnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quy trình lập pháp, giám sát và tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại Việt Nam.
Chương trình chính thức xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005
Chương trình chính thức được chia làm hai phần rõ rệt bao gồm các dự án luật trình Quốc hội theo từng kỳ họp và các dự án pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét:
- Các dự án luật tại kỳ họp thứ bảy (dự kiến vào tháng 5-2005):
- Trình Quốc hội thông qua (11 dự án): Bộ luật dân sự (sửa đổi); Luật thương mại (sửa đổi); Bộ luật hàng hải Việt Nam (sửa đổi); Luật dược; Luật đường sắt Việt Nam; Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; Luật quốc phòng; Luật kiểm toán nhà nước; Luật giáo dục (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự.
- Trình Quốc hội cho ý kiến (11 dự án): Luật du lịch; Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi); Luật các công cụ chuyển nhượng trong ngân hàng; Luật sở hữu trí tuệ; Luật giao dịch điện tử; Luật về nhà ở; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi); Luật thanh niên; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản; Luật công an nhân dân; Luật chống tham nhũng.
- Các dự án luật tại kỳ họp thứ tám (dự kiến vào tháng 10-2005):
- Trình Quốc hội thông qua (11 dự án): Luật du lịch; Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi); Luật các công cụ chuyển nhượng trong ngân hàng; Luật sở hữu trí tuệ; Luật giao dịch điện tử; Luật về nhà ở; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi); Luật thanh niên; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản; Luật công an nhân dân; Luật chống tham nhũng.
- Trình Quốc hội cho ý kiến (9 dự án): Luật doanh nghiệp; Luật đầu tư; Luật bảo hiểm xã hội; Luật kinh doanh bất động sản; Luật hàng không dân dụng Việt Nam (sửa đổi); Luật công nghệ thông tin; Bộ luật thi hành án; Luật điện ảnh; Luật đăng ký bất động sản.
- Các dự án pháp lệnh (16 dự án): Nghị quyết xác định danh mục 16 dự án pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội cần được xây dựng và ban hành, bao gồm: Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính; Pháp lệnh về công tác cảnh vệ; Pháp lệnh đấu thầu; Pháp lệnh trợ giúp pháp lý; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài được xác lập trước ngày 01-7-1991; Pháp lệnh phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) (sửa đổi); Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (sửa đổi); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ đình công; Pháp lệnh công chứng; Pháp lệnh về hiến, lấy ghép mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; Pháp lệnh bảo vệ các công trình, mục tiêu trọng điểm về an ninh quốc gia; Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển; Pháp lệnh lý lịch tư pháp; Pháp lệnh cựu chiến binh; Pháp lệnh về án phí, lệ phí tại Tòa án nhân dân.
Chương trình chuẩn bị xây dựng luật, pháp lệnh
Để tạo sự chủ động cho công tác lập pháp trong các giai đoạn tiếp theo, Nghị quyết đề ra danh mục chuẩn bị bao gồm:
- Các dự án luật (16 dự án): Bộ luật xử lý vi phạm hành chính; Luật về thể thức trưng mua, trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức; Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân (sửa đổi); Luật về các vùng biển Việt Nam; Luật về hội; Luật chứng khoán; Luật cư trú; Luật thuế thu nhập cá nhân; Luật đê điều; Luật trưng cầu ý dân; Luật bình đẳng giới; Luật chuyển giao công nghệ; Luật thể dục, thể thao; Luật về luật sư; Luật xuất khẩu lao động; Luật dạy nghề.
- Các dự án pháp lệnh (8 dự án): Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh lãnh sự; Pháp lệnh đăng ký giao dịch bảo đảm; Pháp lệnh tương trợ tư pháp; Pháp lệnh tiêu chuẩn hóa; Pháp lệnh ngoại hối; Pháp lệnh kế hoạch hóa; Pháp lệnh đầu tư xây dựng cơ bản.
Bổ sung các dự án vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XI (2002-2007)
Nghị quyết quyết định bổ sung thêm một số dự án luật và pháp lệnh quan trọng vào chương trình toàn khóa XI nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển thực tiễn kinh tế - xã hội:
- Các dự án luật bổ sung bao gồm: Luật sở hữu trí tuệ; Luật chuyển giao công nghệ; Luật quản lý thuế; Luật dạy nghề; Luật xuất khẩu lao động; Luật chống tham nhũng; Luật khiếu nại, tố cáo (sửa đổi).
- Các dự án pháp lệnh bổ sung bao gồm: Pháp lệnh ngoại hối; Pháp lệnh kế hoạch hóa; Pháp lệnh công nghệ cao; Pháp lệnh đầu tư xây dựng cơ bản.
Biện pháp tổ chức thực hiện và phân công trách nhiệm
Để bảo đảm tính khả thi, tiến độ và chất lượng của Chương trình lập pháp năm 2005, Nghị quyết phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan liên quan:
- Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chịu trách nhiệm chỉ đạo toàn diện việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005.
- Các cơ quan soạn thảo và trình dự án: Phải xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện chi tiết, bảo đảm các dự án được trình đúng tiến độ, đạt chất lượng cao và chủ động chuẩn bị, ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành kèm theo.
- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội: Chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan hữu quan khác để nâng cao chất lượng dự án, thực hiện tốt công tác thẩm tra, hỗ trợ Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; đồng thời tăng cường giám sát việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh.
- Chính phủ: Tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giới thiệu sâu rộng các văn bản pháp luật mới đến mọi cơ quan, tổ chức và người dân nhằm bảo đảm pháp luật được hiểu và thi hành thống nhất trong cả nước.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết số 35/2004/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2004 và có hiệu lực thi hành theo quy định pháp luật hiện hành kể từ ngày ban hành.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 35/2004/NQ-QH11 | Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2004 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH NĂM 2005
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật tổ chức Quốc hội, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Sau khi xem xét Tờ trình số 278/UBTVQH11 ngày 26 tháng 10 năm 2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005 và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;
QUYẾT NGHỊ
Điều 1:
Thông qua Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005 như sau :
A. CHƯƠNG TRÌNH CHÍNH THỨC
I. Các dự án luật
1. Tại kỳ họp thứ bảy (dự kiến vào tháng 5-2005):
a) Trình Quốc hội thông qua: 11 dự án luật
Bộ luật dân sự (sửa đổi);
Luật thương mại (sửa đổi);
Bộ luật hàng hải Việt Nam (sửa đổi);
Luật dược;
Luật đường sắt Việt Nam;
Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế;
Luật quốc phòng;
Luật kiểm toán nhà nước;
Luật giáo dục (sửa đổi);
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự.
b) Trình Quốc hội cho ý kiến: 11 dự án luật
Luật du lịch;
Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi);
Luật các công cụ chuyển nhượng trong ngân hàng;
Luật sở hữu trí tuệ;
Luật giao dịch điện tử;
Luật về nhà ở;
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi);
Luật thanh niên;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản;
Luật công an nhân dân;
Luật chống tham nhũng.
2. Tại kỳ họp thứ tám (dự kiến vào tháng 10-2005):
a) Trình Quốc hội thông qua: 11dự án luật
Luật du lịch;
Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi);
Luật các công cụ chuyển nhượng trong ngân hàng;
Luật sở hữu trí tuệ;
Luật giao dịch điện tử;
Luật về nhà ở;
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (sửa đổi);
Luật thanh niên;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản;
Luật công an nhân dân;
Luật chống tham nhũng.
b) Trình Quốc hội cho ý kiến: 9 dự án luật
Luật doanh nghiệp;
Luật đầu tư;
Luật bảo hiểm xã hội;
Luật kinh doanh bất động sản;
Luật hàng không dân dụng Việt Nam (sửa đổi);
Luật công nghệ thông tin;
Bộ luật thi hành án;
Luật điện ảnh;
Luật đăng ký bất động sản.
II. Các dự án pháp lệnh: 16 dự án
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;
Pháp lệnh về công tác cảnh vệ;
Pháp lệnh đấu thầu;
Pháp lệnh trợ giúp pháp lý;
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;
Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở có yếu tố nước ngoài được xác lập trước ngày 01-7-1991;
Pháp lệnh phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) (sửa đổi);
Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (sửa đổi);
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ đình công;
Pháp lệnh công chứng;
Pháp lệnh về hiến, lấy ghép mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người;
Pháp lệnh bảo vệ các công trình, mục tiêu trọng điểm về an ninh quốc gia;
Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển;
Pháp lệnh lý lịch tư pháp;
Pháp lệnh cựu chiến binh;
Pháp lệnh về án phí, lệ phí tại Tòa án nhân dân.
B. Chương trình chuẩn bị
I. Các dự án luật:
Bộ luật xử lý vi phạm hành chính;
Luật về thể thức trưng mua, trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức;
Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân (sửa đổi);
Luật về các vùng biển Việt Nam;
Luật về hội;
Luật chứng khoán;
Luật cư trú;
Luật thuế thu nhập cá nhân;
Luật đê điều;
Luật trưng cầu ý dân;
Luật bình đẳng giới;
Luật chuyển giao công nghệ;
Luật thể dục, thể thao;
Luật về luật sư;
Luật xuất khẩu lao động;
Luật dạy nghề.
II. Các dự án pháp lệnh:
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên;
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh lãnh sự;
Pháp lệnh đăng ký giao dịch bảo đảm;
Pháp lệnh tương trợ tư pháp;
Pháp lệnh tiêu chuẩn hóa;
Pháp lệnh ngoại hối;
Pháp lệnh kế hoạch hóa;
Pháp lệnh đầu tư xây dựng cơ bản.
Điều 2:
Bổ sung các dự án có tên dưới đây vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2002-2007):
Luật sở hữu trí tuệ;
Luật chuyển giao công nghệ;
Luật quản lý thuế;
Luật dạy nghề;
Luật xuất khẩu lao động;
Luật chống tham nhũng;
Luật khiếu nại, tố cáo (sửa đổi);
Pháp lệnh ngoại hối;
Pháp lệnh kế hoạch hóa;
Pháp lệnh công nghệ cao;
Pháp lệnh đầu tư xây dựng cơ bản.
Điều 3:
1. Giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005.
2. Các cơ quan soạn thảo, trình dự án luật, pháp lệnh có kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể để bảo đảm các dự án được trình đúng tiến độ, có chất lượng và bảo đảm ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành.
3. Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có kế hoạch chủ động phối hợp với các cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan hữu quan khác để nâng cao chất lượng dự án, báo cáo thẩm tra và giúp Uỷ ban thường vụ Quốc hội trong việc tiếp thu, chỉnh lý các dự án luật, pháp lệnh; tăng cường giám sát việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh.
4. Chính phủ có biện pháp đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu pháp luật để mọi cơ quan, tổ chức và mọi người dân hiểu và thi hành thống nhất.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2004.
| Nguyễn Văn An (Đã ký) |
- 1 Nghị quyết số 42/2005/NQ-UBTVQH11 về việc điều chỉnh Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2005 do Quốc hội ban hành
- 2 Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 3 Hiến pháp năm 1992
- 4 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 5 Nghị quyết số 19/1998/NQ-QH10 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khoá X và chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 1999 do Quốc hội ban hành
- 6 Luật Tổ chức Quốc hội 2001