Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Nghị quyết số 36/2004/NQ-QH11

Nghị quyết số 36/2004/NQ-QH11 được Quốc hội khóa XI ban hành nhằm mục tiêu chấn chỉnh, nâng cao hiệu quả công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, đánh giá toàn diện thực trạng đầu tư công tại thời điểm ban hành, đồng thời đề ra các giải pháp quyết liệt nhằm chống thất thoát, lãng phí và tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.

Đánh giá tình hình đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước

Nghị quyết thẳng thắn chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các hạn chế, yếu kém kéo dài trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản:

  • Kết quả đạt được: Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và vốn có nguồn gốc từ ngân sách đã góp phần quan trọng vào việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng cường năng lực sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, đồng thời thực hiện tốt các mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
  • Hạn chế và yếu kém: Tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp còn phổ biến. Thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong các khâu của quá trình đầu tư từ quy hoạch, lập dự án, thiết kế, đấu thầu đến thi công và nghiệm thu còn nghiêm trọng. Nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở mức cao, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh tài chính quốc gia.

Mục tiêu và yêu cầu trong quản lý vốn đầu tư nhà nước

Nghị quyết xác định rõ các mục tiêu cốt lõi nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản:

  • Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Đảm bảo mọi nguồn vốn đầu tư của Nhà nước phải được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
  • Khắc phục triệt để tình trạng dàn trải: Tập trung vốn cho các công trình trọng điểm, cấp bách, có khả năng hoàn thành sớm để đưa vào sử dụng, chấm dứt tình trạng phê duyệt dự án vượt quá khả năng cân đối vốn.
  • Chống thất thoát, lãng phí và tham nhũng: Thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ, minh bạch hóa thông tin đầu tư, quy định rõ trách nhiệm cá nhân của người quyết định đầu tư và chủ đầu tư.

Các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm được triển khai

Để đạt được các mục tiêu đề ra, Nghị quyết quy định các nhóm giải pháp mạnh mẽ áp dụng cho toàn bộ quy trình đầu tư:

  • Rà soát và hoàn thiện quy hoạch: Các bộ, ngành và địa phương phải khẩn trương rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch xây dựng làm căn cứ quyết định đầu tư. Không phê duyệt dự án đầu tư khi chưa có quy hoạch được duyệt.
  • Thắt chặt quy trình quyết định đầu tư: Người quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả của dự án. Chỉ được quyết định đầu tư khi đã xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn. Nghiêm cấm việc tự ý bổ sung hạng mục ngoài thiết kế được duyệt làm tăng tổng mức đầu tư bất hợp lý.
  • Cải cách công tác đấu thầu và chọn nhà thầu: Thực hiện đấu thầu rộng rãi, công khai, minh bạch đối với tất cả các dự án sử dụng vốn nhà nước theo quy định. Ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi thông thầu, bán thầu, dàn xếp kết quả đấu thầu.
  • Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra: Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng, các cơ quan dân cử và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thực hiện thanh tra, kiểm toán định kỳ hoặc đột xuất đối với các dự án lớn, dự án có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước

Nghị quyết phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo tính khả thi:

  • Chính phủ: Có trách nhiệm xây dựng chương trình hành động cụ thể, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc các nội dung của Nghị quyết; định kỳ báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện.
  • Các cơ quan của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp: Tăng cường hoạt động giám sát tối cao và giám sát tại địa phương đối với việc chấp hành pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản, tập trung vào các dự án trọng điểm quốc gia và các dự án sử dụng ngân sách địa phương.

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 36/2004/NQ-QH11

Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2004

NGHỊ QUYẾT

VỀ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC

QUỐC HỘI

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật hoạt động giám sát của Quốc hội;
Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 1601/CP-KTTH ngày 26 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ, Báo cáo số 273/UBTVQH11 ngày 20 tháng 10 năm 2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát “Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ trong cả nước, kết quả khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tình hình nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả thấp và chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản” và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ

1. Quốc hội cơ bản tán thành những đánh giá về kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, trách nhiệm tập thể, cá nhân và những giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả, tăng cường kỷ cương, lập lại trật tự trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước đã nêu trong Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo kết quả giám sát của Uỷ banthường vụ Quốc hội; đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:

Trong những năm qua, nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước nói riêng và của toàn xã hội nói chung ngày càng tăng, năm sau tăng hơn năm trước, đã góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm mới, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Nhà nước thực sự có vai trò chủ đạo, dẫn dắt, thu hút và làm cho các nguồn vốn của xã hội được huy động cho đầu tư phát triển tăng hàng năm.

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản trong những năm gần đây có một số tiến bộ như: khung pháp lý về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện; công tác chỉ đạo điều hành, kiểm tra, thanh tra của Chính phủ được tăng cường; công tác giám sát của các cơ quan dân cử, của công luận và nhân dân đối với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản bước đầu phát huy hiệu quả trong việc phát hiện những yếu kém, tiêu cực trong quản lý, góp phần từng bước hạn chế và khắc phục những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.

Tuy nhiên, công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và nguồn vốn từ Nhà nước nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc: quy hoạch, kế hoạch đầu tư chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao; quy hoạch, kế hoạch theo ngành chưa gắn chặt với vùng, địa phương; một số quyết định chủ trương đầu tư thiếu chính xác; tình trạng đầu tư dàn trải diễn ra phổ biến; thất thoát, lãng phí xảy ra ở nhiều ngành, lĩnh vực, trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu tư, quy hoạch, lập, thẩm định dự án, khảo sát thiết kế đến thực hiện đầu tư, đấu thầu, nghiệm thu, điều chỉnh tăng dự toán, thanh quyết toán và đưa công trình vào khai thác sử dụng; nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng; hiệu quả đầu tư thấp.

Trong số những nguyên nhân đã nêu trong Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, cần thẳng thắn và nhận thức sâu sắc nguyên nhân quan trọng, trực tiếp là: (1) Việc chấp hành pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản chưa nghiêm; không ít cán bộ quản lý, điều hành thiếu trách nhiệm, phẩm chất đạo đức yếu kém, lợi dụng chức trách, nhiệm vụ bớt xén, tham nhũng; (2) Một số ngành, địa phương chưa coi trọng đúng mức công tác quy hoạch, kế hoạch, thiếu thận trọng trong quyết định chủ trương đầu tư, không tuân thủ nghiêm quy hoạch, kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thay đổi, bổ sung không đúng thẩm quyền; (3) Cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp trong quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản chưa rõ ràng và chưa đề cao trách nhiệm của từng Bộ, ngành, địa phương, nhất là về trách nhiệm cá nhân; (4) Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán chưa thường xuyên, diện còn rất hẹp, chưa sâu, chất lượng còn nhiều hạn chế; (5) Xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm không nghiêm, chưa triệt để và còn kéo dài sau kiểm tra, thanh tra; (6) Văn bản pháp luật hiện hành về đầu tư xây dựng cơ bản còn chưa đủ cụ thể, thiếu những chế tài đủ mạnh.

2. Quốc hội yêu cầu Chính phủ chỉ đạo kiên quyết và áp dụng những giải pháp hữu hiệu để lập lại trật tự, kỷ cương trong đầu tư xây dựng cơ bản, tập trung vào những vấn đề sau đây:

a) Quy định cụ thể quy trình, chế tài về thanh tra, kiểm tra, giám sát nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Nhà nước trong từng khâu của quá trình đầu tư; ban hành các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn xây dựng cơ bản; định mức lập dự toán đầu tư và tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cho từng dự án và từng ngành. Thực hiện công khai, minh bạch các quy định pháp luật; các dự án, công trình, từ chủ trương đầu tư, thẩm định, duyệt dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, đấu thầu đến nghiệm thu, thanh quyết toán; công khai kết quả thanh tra, kiểm tra và kết quả xử lý qua thanh tra, kiểm tra.

b) Có chế định đề cao trách nhiệm và xử lý trách nhiệm cá nhân trong từng khâu đầu tư, nhất là trách nhiệm của người quyết định dự án quy hoạch, dự án đầu tư; làm rõ sai phạm, quy rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm minh, triệt để bằng biện pháp hành chính, hình sự và bồi hoàn thiệt hại vật chất; khắc phục tình trạng chỉ quy kết trách nhiệm, nhận thiếu sót, yếu kém tập thể, chung chung như thời gian qua; kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy công quyền những cán bộ, công chức phẩm chất kém, thiếu tinh thần trách nhiệm, gây phiền hà, nhũng nhiễu, năng lực chuyên môn yếu trong quản lý xây dựng cơ bản.

c) Rà soát điều chỉnh, bổ sung hoặc xây dựng mới các quy hoạch, kế hoạch đầu tư. Gắn quy hoạch với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng. Phân cấp, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng Bộ, giữa các Bộ, giữa Bộ với tỉnh, thành phố; xác định rõ và nâng cao trách nhiệm quản lý, điều hành của Bộ trưởng đối với toàn ngành, của chủ đầu tư. Ngăn chặn kịp thời và xử l?ý nghiêm những trường hợp không chấp hành đúng quy định của pháp luật, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, của cấp trên. Có lộ trình cụ thể áp dụng mô hình và cơ chế để xóa bỏ tình trạng khép kín trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

d) Thực hiện tổng rà soát, đánh giá hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản hiện hành để kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, hình thành hệ thống pháp luật đồng bộ hơn, có tính pháp lý cao hơn.

đ) Trong năm 2005, Chính phủ tiếp tục có kế hoạch chỉ đạo kiểm tra, thanh tra các công trình, dự án có những biểu hiện tiêu cực được cử tri và công luận phản ánh.

e) Từ nay đến hết năm 2006, có kế hoạch cụ thể, biện pháp xử lý mạnh để giải quyết dứt điểm nợ đọng vốn xây dựng cơ bản, hàng năm báo cáo kết quả thực hiện với Quốc hội.

3. Quốc hội yêu cầu các cơ quan tư pháp theo chức năng của mình có kế hoạch cụ thể, triển khai ráo riết nhiệm vụ, kịp thời ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản, bất kể tổ chức đó là tổ chức nào, cá nhân đó là ai.

4. Lấy năm 2005 là năm “Nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí, đầu tư dàn trải, nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản". Theo tinh thần đó, Chính phủ cần tập trung chỉ đạo để tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong lĩnh vực này và báo cáo kết quả thực hiện tại kỳ họp Quốc hội cuối năm 2005.

5. Giao Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tiếp tục tổ chức giám sát chuyên sâu về đầu tư xây dựng cơ bản và giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Hội đồng nhân dân các cấp tổ chức giám sát về đầu tư xây dựng cơ bản và giám sát việc thực hiện Nghị quyết này ở địa phương.

6. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, hiệp hội nghề nghiệp, cơ quan báo chí, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan giám sát việc thực hiện Nghị quyết này, phát hiện và kiến nghị xử lý kịp thời những tiêu cực, yếu kém trong đầu tư xây dựng cơ bản.

7. Khuyến khích, khen thưởng, động viên kịp thời và có biện pháp bảo vệ theo quy định của pháp luật những tổ chức, cá nhân có công phát hiện, tích cực đấu tranh với các hành vi tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản.

Các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân theo chức năng, nhiệm vụ của mình, đề cao trách nhiệm trước Nhà nước và nhân dân, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết này là góp phần thiết thực chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ sáu thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004.

Nguyễn Văn An

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết số 36/2004/NQ-QH11 về công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước do Quốc hội ban hành

Số hiệu: 36/2004/NQ-QH11
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 03/12/2004
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Số 2
Ngày hiệu lực: 17/01/2005
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Tài chính nhà nước, Xây dựng - Đô thị
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết số 36/2004/NQ-QH11 về công tác đầu...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký