Ngày 29 tháng 6 năm 2001, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Nghị quyết số 44/2001/NQ-QH10 về chủ trương đầu tư dự án Nhà máy thủy điện Sơn La. Đây là công trình trọng điểm quốc gia có vai trò chiến lược trong việc đảm bảo an ninh năng lượng, điều tiết nguồn nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tây Bắc.
Phạm vi áp dụng của Nghị quyết bao gồm các hoạt động chuẩn bị, đầu tư, xây dựng và giám sát dự án Nhà máy thủy điện Sơn La. Đối tượng áp dụng trực tiếp là Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan hữu quan của Quốc hội, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện dự án và toàn thể nhân dân trong vùng ảnh hưởng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thuộc diện di dời, tái định cư.
Nhiệm vụ chủ yếu của Dự án Nhà máy thủy điện Sơn La
- Cung cấp nguồn điện năng quan trọng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Tham gia cắt lũ vào mùa mưa và bổ sung nguồn nước vào mùa kiệt cho vùng đồng bằng Bắc Bộ, bảo đảm an toàn cho đời sống và sản xuất nông nghiệp.
- Góp phần tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân vùng Tây Bắc.
Yêu cầu đối với phương án xây dựng và quy mô công trình
Chính phủ có trách nhiệm khẩn trương chuẩn bị các phương án quy mô khác nhau để trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án xây dựng tối ưu nhất, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau:
- Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho bản thân công trình thủy điện, khu vực hạ du và đặc biệt là Thủ đô Hà Nội.
- Đạt hiệu quả kinh tế tổng hợp cao nhất trong quá trình vận hành và khai thác.
- Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh cho toàn vùng Tây Bắc.
- Giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực dự án.
- Có các giải pháp cụ thể nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số tại địa phương.
Các công việc chuẩn bị trọng tâm giao Chính phủ triển khai
- Khẩn trương hoàn thành các thủ tục và công việc cần thiết để bảo đảm khởi công xây dựng công trình vào năm 2005.
- Thực hiện nâng cấp, mở rộng tuyến Quốc lộ số 6 để phục vụ công tác vận chuyển thiết bị, vật liệu và giao thông khu vực.
- Xây dựng dự án tổng thể về tái định cư tương ứng với các phương án quy mô. Giải quyết thỏa đáng các chính sách an sinh đối với đồng bào các dân tộc, xác định công tác tái định cư là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, song hành cùng tiến độ xây dựng công trình. Tiến hành thí điểm các khu tái định cư, định canh mẫu để đúc rút kinh nghiệm thực tiễn trước khi triển khai diện rộng.
Trách nhiệm giám sát, khảo sát và thẩm tra của các cơ quan Quốc hội
Giao Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan của Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi quyền hạn:
- Giám sát toàn diện quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết này.
- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, khảo sát thực tế; chủ động lấy ý kiến đóng góp từ các nhà khoa học chuyên ngành; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, đặc biệt chú trọng đến người dân thuộc diện di dời và tại các vùng tái định cư.
- Thực hiện thẩm tra kỹ lưỡng các tờ trình, báo cáo liên quan đến Dự án do Chính phủ trình để báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết số 44/2001/NQ-QH10 có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Quốc hội thông qua (ngày 29 tháng 6 năm 2001).
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 44/2001/NQ-QH10 | Hà Nội, ngày 29 tháng 6 năm 2001 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ DỰ ÁN NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN SƠN LA
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết số 05/1997/QH10 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 2 về tiêu chuẩn các công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư;
Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 520/CP-CN ngày 13 tháng 6 năm 2001 của Chính phủ; Báo cáo thẩm tra số 651/UBKHCNMT10 ngày16 tháng 6 năm 2001 của Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về Dự án nhà máy thủy điện Sơn La;
QUYẾT NGHỊ
Điều 1: Quyết định chủ trương đầu tư Dự án nhà máy thuỷ điện Sơn La - công trình quan trọng quốc gia - với các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
1- Cung cấp điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
2- Góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước về mùa kiệt cho đồng bằng Bắc Bộ;
3- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc.
Điều 2:
1- Ngay sau kỳ họp này, Chính phủ khẩn trương chuẩn bị các phương án quy mô khác nhau, sớm trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La với các yêu cầu sau đây:
a) Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình, cho hạ du và Thủ đô Hà Nội;
b) Đạt hiệu quả kinh tế tổng hợp;
c) Bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Bắc;
d) Giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường - sinh thái, đa dạng sinh học;
đ) Có biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá các dân tộc.
2 - Giao Chính phủ triển khai thực hiện các công việc chuẩn bị sau đây:
a) Khẩn trương tiến hành các công việc cần thiết để khởi công xây dựng công trình vào năm 2005;
b) Mở rộng và nâng cấp quốc lộ số 6;
c) Xây dựng dự án tổng thể về tái định cư theo các phương án, giải quyết tốt các chính sách đối với đồng bào các dân tộc, coi đây là nhiệm vụ quan trọng như việc xây dựng công trình; thí điểm các khu tái định cư, định canh mẫu để rút kinh nghiệm.
Điều 3: Giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện các công việc sau đây:
1 - Giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết này;
2 - Tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực tế; lấy ý kiến các nhà khoa học về Dự án; lấy ý kiến của nhân dân, nhất là nhân dân vùng phải di dời và vùng tái định cư;
3 - Thẩm tra tờ trình, các báo cáo có liên quan về Dự án của Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 4: Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày Quốc hội thông qua.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |