Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Nghị quyết số 56/2002/QH10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua nhằm hướng dẫn và quy định chi tiết việc thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân mới. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi mạnh mẽ trong tiến trình cải cách tư pháp, phân định rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan xét xử và kiểm sát tại Việt Nam.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị quyết

Nghị quyết này tập trung điều chỉnh các quan hệ chuyển tiếp liên quan đến tổ chức bộ máy, nhân sự và thẩm quyền của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, các cơ quan điều tra, các cơ quan hữu quan khác cùng đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, cán bộ ngành Tòa án và Kiểm sát trên phạm vi cả nước.

Chuyển giao công tác quản lý các Tòa án nhân dân địa phương

  • Chuyển giao toàn bộ nhiệm vụ, quyền hạn quản lý các Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổ chức từ Bộ Tư pháp sang Tòa án nhân dân tối cao.
  • Quy định rõ thời hạn hoàn thành việc bàn giao biên chế, tổ chức, cán bộ, phương tiện làm việc và kinh phí hoạt động của các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trước ngày 01 tháng 9 năm 2002.
  • Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Tòa án nhân dân tối cao để thực hiện việc bàn giao thông suốt, không làm ảnh hưởng đến hoạt động xét xử thường xuyên của các tòa án.

Quy định chuyển tiếp về đội ngũ Thẩm phán và Kiểm sát viên

  • Các Thẩm phán Tòa án nhân dân và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã được bổ nhiệm trước ngày Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 có hiệu lực vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi hết nhiệm kỳ bổ nhiệm.
  • Ủy ban thường vụ Quốc hội phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và Kiểm sát viên theo các tiêu chuẩn và quy trình mới được quy định trong các luật tổ chức mới.

Chuyển giao nhiệm vụ điều tra của Viện kiểm sát nhân dân

  • Xác định lộ trình thu hẹp và chuyển giao nhiệm vụ điều tra một số loại tội phạm của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao sang Cơ quan điều tra của lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân.
  • Tập trung tối đa chức năng của Viện kiểm sát nhân dân vào hai công tác cốt lõi là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo đúng tinh thần cải cách tư pháp mới.

Giải quyết các vụ án đang trong quá trình thụ lý, giải quyết

  • Đối với các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính đang được Tòa án hoặc Viện kiểm sát thụ lý giải quyết trước ngày các luật mới có hiệu lực thì tiếp tục được giải quyết theo thẩm quyền và thủ tục cũ, bảo đảm tính liên tục và quyền lợi hợp pháp của các đương sự, bị can, bị cáo.
  • Các tranh chấp, khiếu kiện phát sinh sau thời điểm luật mới có hiệu lực phải được thụ lý và giải quyết nghiêm ngặt theo đúng các quy định mới về thẩm quyền xét xử và kiểm sát.

Hiệu lực thi hành

Nghị quyết số 56/2002/QH10 có hiệu lực thi hành đồng thời với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2002. Các quy định trước đây trái với Nghị quyết này đều bị bãi bỏ.

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 56/2002/QH10

Hà Nội, ngày 02 tháng 4 năm 2002

NGHỊ QUYẾT

VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ LUẬT TỔ CHỨC VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

QUYẾT NGHỊ

1. Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2002.

2. Kể từ ngày Luật tổ chức Toà án nhân dân được công bố cho đến ngày Luật này có hiệu lực:

a) Việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự về tổ chức và việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân địa phương và Toà án quân sự các cấp vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành;

b) Bộ tư pháp phối hợp với Toà án nhân dân tối cao và Bộ quốc phòng chuẩn bị để bàn giao cho Toà án nhân dân tối cao công tác quản lý các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự quân khu và tương đương, các Toà án quân sự khu vực về tổ chức.

Kinh phí năm 2002 của các Toà án nhân dân địa phương do Bộ tư pháp tiếp tục thực hiện và quyết toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

3. Kể từ ngày Luật tổ chức Toà án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân có hiệu lực:

a) Bãi bỏ các quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm của Toà án nhân dân tối cao; về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

b) Đối với những bản án, quyết định đã bị Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị trước ngày 01 tháng 10 năm 2002 nhưng chưa được xét xử thì các Tòa chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao vẫn tiếp tục xét xử giám đốc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành;

c) Giải thể các cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương; những việc do các cơ quan điều tra này đã thụ lý mà chưa kết thúc điều tra thì bàn giao cho cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Đối với những bản án, quyết định đã bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, nhưng trước ngày 01 tháng 10 năm 2002 mà vụ án chưa được xét xử thì giao cho Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

đ) Đối với những quyết định của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

e) Đối với những quyết định của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao mà phát hiện có sai lầm hoặc có tình tiết mới thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành.

4. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của hai Luật này, bảo đảm việc thi hành Luật tổ chức Toà án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân từ ngày 01 tháng 10 năm 2002.

5. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thi hành Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 02 tháng 4 năm 2002.

Nguyễn Văn An

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết số 56/2002/QH10 về việc thi hành Luật Tổ chức Toán án nhân dân và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân do Quốc Hội ban hành

Số hiệu: 56/2002/QH10
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 02/04/2002
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Số 24
Ngày hiệu lực: 17/04/2002
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết số 56/2002/QH10 về việc thi hành L...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký