Nghị quyết số 65/2006/NQ-QH11 của Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006 quy định về việc thi hành Luật Luật sư. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo sự chuyển tiếp thông suốt, đồng bộ từ Pháp lệnh Luật sư năm 2001 sang Luật Luật sư năm 2006, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động hành nghề luật sư và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư tại Việt Nam.
Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết nội dung cốt lõi của Nghị quyết, tập trung vào Phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên từ Điều 1 đến Điều 4:
- Điều 1: Hiệu lực thi hành của Luật Luật sư và việc thay thế văn bản cũ
- Luật Luật sư chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18 tháng 12 năm 2006.
- Kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực, Pháp lệnh Luật sư ngày 25 tháng 7 năm 2001 chính thức hết hiệu lực thi hành. Quy định này đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong việc nâng tầm văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động luật sư từ Pháp lệnh lên thành Luật, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
- Điều 2: Quy định chuyển tiếp đối với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trong nước
- Đối với người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư: Những người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 và đang hoạt động hành nghề thì không phải làm thủ tục cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư theo Luật Luật sư mới. Họ được tiếp tục hành nghề theo quy định của Luật Luật sư năm 2006.
- Đối với tổ chức hành nghề luật sư: Các Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh đã được thành lập và đăng ký hoạt động theo Pháp lệnh Luật sư năm 2001 được tiếp tục hoạt động. Tuy nhiên, trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực, các tổ chức này phải tiến hành rà soát, bổ sung các điều kiện hoạt động và thực hiện việc đăng ký lại hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề theo đúng quy định của Luật Luật sư năm 2006.
- Đối với người đang tập sự hành nghề luật sư: Những người đang tập sự hành nghề luật sư theo quy định cũ được tiếp tục tập sự. Thời gian tập sự trước đó được tính vào thời gian tập sự theo quy định của Luật Luật sư mới. Sau khi hoàn thành thời gian tập sự, họ phải tham gia kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư theo quy định mới để được xem xét cấp Chứng chỉ hành nghề.
- Đối với các Đoàn luật sư: Các Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã được thành lập trước ngày Luật Luật sư có hiệu lực tiếp tục hoạt động và có trách nhiệm tổ chức Đại hội để sửa đổi, bổ sung Điều lệ hoặc thông qua Điều lệ mới cho phù hợp với Luật Luật sư năm 2006.
- Điều 3: Quy định chuyển tiếp đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài và luật sư nước ngoài tại Việt Nam
- Đối với Chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài, Công ty luật nước ngoài: Các tổ chức này đã được cấp Giấy phép thành lập và đăng ký hoạt động tại Việt Nam trước ngày Luật Luật sư có hiệu lực được tiếp tục hoạt động theo nội dung Giấy phép đã cấp. Trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật Luật sư có hiệu lực, các tổ chức này phải thực hiện việc đăng ký lại hoặc chuyển đổi hình thức hoạt động cho phù hợp với quy định của Luật Luật sư năm 2006.
- Đối với luật sư nước ngoài: Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam trước ngày Luật Luật sư có hiệu lực được tiếp tục hành nghề theo Giấy phép đã cấp cho đến khi hết thời hạn ghi trong Giấy phép. Khi hết thời hạn, nếu muốn tiếp tục hành nghề thì phải làm thủ tục gia hạn hoặc cấp lại Giấy phép theo quy định của Luật Luật sư mới.
- Điều 4: Trách nhiệm hướng dẫn và thi hành Nghị quyết
- Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị quyết này và Luật Luật sư năm 2006.
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm rà soát các quy định của pháp luật hiện hành về luật sư và hành nghề luật sư để tự mình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với Luật Luật sư năm 2006, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
- Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao giám sát việc thi hành Luật Luật sư và Nghị quyết này nhằm bảo đảm hoạt động hành nghề luật sư được thực hiện đúng pháp luật, nâng cao vai trò của luật sư trong việc bảo vệ công lý và phát triển kinh tế - xã hội.
Tóm lại, các điều khoản đầu tiên của Nghị quyết số 65/2006/NQ-QH11 đã giải quyết triệt để các vấn đề chuyển tiếp mang tính lịch sử giữa hai thời kỳ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho đội ngũ luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư trong và ngoài nước ổn định hoạt động, đồng thời thiết lập lộ trình rõ ràng để đưa Luật Luật sư năm 2006 đi vào cuộc sống một cách hiệu quả.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 65/2006/NQ-QH11 | Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2006 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT LUẬT SƯ
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Hiến ph nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
QUYẾT NGHỊ:
1. Luật luật sư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2007.
2. Chính phủ tổ chức việc rà soát những văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh luật sư năm 2001 để huỷ bỏ, ban hành văn bản mới để thi hành Luật này.
3. Kể từ ngày Luật luật sư có hiệu lực thì:
a) Người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 được tiếp tục hành nghề luật sư theo quy định của Luật này;
b) Người đang là luật sư tập sự theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 được tiếp tục tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật này; thời gian đã tập sự hành nghề luật sư được tính vào thời gian tập sự hành nghề luật sư theo quy định của Luật này và Thẻ luật sư tập sự không còn giá trị;
c) Thẻ luật sư do Đoàn luật sư cấp theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 có giá trị cho đến khi được đổi thẻ mới; tổ chức luật sư toàn quốc hướng dẫn việc đổi Thẻ luật sư;
d) Trong thời hạn sáu tháng, văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh đã được cấp Giấy đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 phải thực hiện thủ tục chuyển đổi thành văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh theo quy định của Luật này.
Bộ Tư pháp hướng dẫn việc chuyển đổi đối với các văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh đã được cấp Giấy đăng ký hoạt động theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001;
đ) Trong thời hạn sáu tháng, cá nhân, tổ chức đang kinh doanh dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999 mà tiếp tục kinh doanh dịch vụ pháp lý thì phải có đủ các điều kiện hành nghề luật sư và phải chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề theo quy định của Luật này; nếu không chuyển đổi thì phải chấm dứt hoạt động.
Bộ Tư pháp hướng dẫn việc chuyển đổi đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ pháp lý theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 1999;
e) Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam; chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, công ty luật hợp danh nước ngoài và Việt Nam đã được cấp Giấy phép thành lập theo quy định của Nghị định 87/2003/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam được tiếp tục hành nghề theo quy định của Luật này;
g) Đoàn luật sư được thành lập theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 không phải làm thủ tục xin phép thành lập lại;
h) Trong thời gian tổ chức luật sư toàn quốc chưa được thành lập, việc kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp tổ chức thực hiện, việc cấp Thẻ luật sư do Đoàn luật sư thực hiện.
4. Chính phủ quy định cụ thể việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn để phát triển đội ngũ luật sư và bảo đảm hoạt động của Đoàn luật sư.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006.
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |