Nghị quyết số 91/NQ/HĐNN8 được Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm phê chuẩn Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh, thiết lập quy trình lập pháp và lập quy chặt chẽ, thống nhất trong giai đoạn đổi mới đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quy chế ban hành kèm theo Nghị quyết này áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, và các cá nhân có thẩm quyền tham gia vào quy trình soạn thảo, thẩm tra, trình và ban hành các dự án luật của Quốc hội và pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước.
- Mục tiêu và nguyên tắc xây dựng luật, pháp lệnh- Đảm bảo tính thống nhất, hợp hiến, hợp pháp của hệ thống pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp lý cấp cao hơn.
- Phát huy dân chủ, thu hút sự tham gia đóng góp ý kiến rộng rãi của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội và nhân dân vào quá trình lập pháp.
- Nâng cao chất lượng, tính khoa học và hiệu quả thực tiễn của các văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.
- Các cơ quan có thẩm quyền đề xuất kiến nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh gửi đến Hội đồng Nhà nước và Ủy ban Pháp luật của Quốc hội để tổng hợp.
- Hội đồng Nhà nước phối hợp với Hội đồng Bộ trưởng để dự thảo chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và toàn khóa để trình Quốc hội xem xét, quyết định.
- Việc điều chỉnh, bổ sung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong quá trình thực hiện phải được tiến hành theo quy trình chặt chẽ nhằm bảo đảm tính chủ động và khả thi.
- Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo, xây dựng đề cương chi tiết, tiến hành nghiên cứu thực tiễn và hoàn thiện dự thảo cùng tờ trình thuyết minh chi tiết.
- Tổ chức lấy ý kiến của các ngành, các cấp, các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản để hoàn thiện nội dung dự thảo.
- Đảm bảo hồ sơ dự án luật, pháp lệnh đầy đủ các tài liệu theo quy định, bao gồm dự thảo văn bản, tờ trình, bản tổng hợp ý kiến và các tài liệu liên quan trước khi trình cơ quan thẩm tra.
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban thường trực của Quốc hội có trách nhiệm thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực mình phụ trách trước khi trình Hội đồng Nhà nước hoặc Quốc hội.
- Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật hiện hành, cũng như tính khả thi và nguồn lực bảo đảm thi hành.
- Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm, lập luận và các kiến nghị cụ thể để làm cơ sở cho Hội đồng Nhà nước và Quốc hội xem xét, thảo luận.
- Quốc hội xem xét, thông qua các dự án luật; Hội đồng Nhà nước xem xét, thông qua các dự án pháp lệnh theo trình tự thảo luận dân chủ, biểu quyết từng điều khoản hoặc toàn văn dự thảo.
- Các luật và pháp lệnh sau khi được thông qua phải được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố trong thời hạn luật định để chính thức có hiệu lực thi hành và phổ biến rộng rãi đến nhân dân.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết số 91/NQ/HĐNN8 và Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh kèm theo có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành, đặt nền móng quan trọng cho việc chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa quy trình lập pháp của Việt Nam trong thời kỳ đầu của công cuộc Đổi mới.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 91/NQ/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 06 tháng 8 năm 1988 |
NGHỊ QUYẾT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 91 NQ/HĐNN8 NGÀY 6 THÁNG 8 NĂM 1988
Theo đề nghị của Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước,
QUYẾT ĐỊNH:
|
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
Võ Chí Công (Đã ký) |