Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Nghị quyết về việc Xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành là văn bản pháp lý quan trọng nhằm chính thức công nhận và xác định tư cách đại biểu của các cá nhân đã trúng cử trong kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, đảm bảo tính hợp pháp và đúng quy trình của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị quyết

Văn bản áp dụng đối với toàn thể các đại biểu Quốc hội đã trúng cử trong kỳ bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến công tác bầu cử và xác nhận tư cách đại biểu.

Nội dung cốt lõi về việc xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội

Dựa trên các quy định pháp luật hiện hành về bầu cử và tổ chức Quốc hội, nội dung xác nhận tư cách đại biểu bao gồm các điểm chính sau:

  • Xem xét báo cáo kết quả bầu cử: Quốc hội tiến hành thẩm tra và xem xét toàn diện báo cáo của Hội đồng bầu cử quốc gia về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến người trúng cử và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội.
  • Chính thức xác nhận tư cách đại biểu: Thông qua việc biểu quyết quyết định, Quốc hội ban hành Nghị quyết xác nhận tư cách đại biểu đối với những người trúng cử đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, không vi phạm các điều cấm và không có khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết.
  • Xử lý các trường hợp đặc biệt: Đối với các trường hợp có đơn thư khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia và Quốc hội sẽ xem xét, làm rõ trước khi đưa ra quyết định chính thức về việc có xác nhận tư cách đại biểu hay không.
  • Phát sinh quyền và nghĩa vụ của đại biểu: Kể từ thời điểm Nghị quyết xác nhận tư cách đại biểu được thông qua, các đại biểu Quốc hội chính thức có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại biểu nhân dân theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội.

Hiệu lực thi hành

Nghị quyết về việc Xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Quốc hội biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ nhất của khóa mới.

QUỐC HỘI
********

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 09 tháng 6 năm 1971

NGHỊ QUYẾT

XÁC NHẬN TƯ CÁCH ĐẠI BIỂU CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI

QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Căn cứ vào Điều 56 của hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Sau khi nghe Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội khoá IV báo cáo về kết quả việc thẩm tra.

QUYẾT ĐỊNH

Xác nhận tư cách đại biểu của 420 đại biểu Quốc hội trúng cử trong cuộc bầu cử ngày 11 tháng 4 năm 1971. Theo biên bản tổng kết ngày 22 tháng 5 năm 1971 của Hội đồng bầu cử đại biểu Quốc hội khoá IV.

Nguyễn Văn Điệp

(Đã ký)

Văn bản được căn cứ
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết về việc Xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội do Quốc hội ban hành

Số hiệu: Không số
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 09/06/1971
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nguyễn Văn Điệp
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 09/06/1971
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết về việc Xác nhận tư cách đại biểu...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký