Pháp lệnh hôn nhân và Gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993 được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên phù hợp với Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (được định nghĩa là người không có quốc tịch Việt Nam). Trong các quan hệ này tại Việt Nam, người nước ngoài được hưởng quyền và có nghĩa vụ như công dân Việt Nam. Nhà nước Việt Nam thực hiện bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài. Đặc biệt, các quy định của Pháp lệnh này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các công dân Việt Nam với nhau mà có một bên định cư ở nước ngoài.
Quản lý nhà nước và thẩm quyền của các cơ quan
- Quản lý nhà nước: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp để triển khai thực hiện.
- Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Sở Tư pháp có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân thực hiện các nhiệm vụ này.
- Thẩm quyền của Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự: Thực hiện đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, đỡ đầu tại nước ngoài giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài và bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam tại nước ngoài.
- Thẩm quyền của Tòa án nhân dân: Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết các vụ án ly hôn, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, nhận con ngoài giá thú, cấp dưỡng, nuôi con nuôi và đỡ đầu.
- Hợp pháp hóa lãnh sự: Các giấy tờ, tài liệu của nước ngoài liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình chỉ được cơ quan thẩm quyền Việt Nam xem xét sau khi đã được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch ra tiếng Việt và chứng thực hợp pháp.
Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài
- Cơ quan nhà nước Việt Nam chỉ áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp được Pháp lệnh này quy định và việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, không gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia. Nếu trái với các nguyên tắc này, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng.
- Đối với người nước ngoài có nhiều quốc tịch, pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và thường trú tại thời điểm phát sinh quan hệ; nếu không thường trú tại các nước đó thì áp dụng pháp luật của nước mà họ có quốc tịch và có quan hệ gắn bó nhất.
- Đối với người không quốc tịch, pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi họ thường trú; nếu không có nơi thường trú thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
Quy định về kết hôn và hủy kết hôn trái pháp luật
- Điều kiện kết hôn: Mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn. Nếu kết hôn trước cơ quan thẩm quyền Việt Nam, người nước ngoài phải tuân theo các quy định về điều kiện và cấm kết hôn của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, không bị nhiễm HIV và phải được cơ quan thẩm quyền nước họ xác nhận đủ điều kiện kết hôn.
- Đối tượng đặc biệt: Công dân Việt Nam đang phục vụ trong Quân đội hoặc ngành liên quan đến bí mật quốc gia khi kết hôn với người nước ngoài phải được cơ quan chủ quản xác nhận việc kết hôn không trái quy chế ngành.
- Nghi thức và công nhận kết hôn: Việc kết hôn tại Việt Nam phải tuân theo nghi thức quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Việc kết hôn tiến hành ở nước ngoài theo pháp luật nước đó được công nhận tại Việt Nam, trừ trường hợp có ý định lẩn tránh quy định pháp luật Việt Nam.
- Hủy kết hôn trái pháp luật: Việc kết hôn vi phạm điều kiện quy định là trái pháp luật. Vợ, chồng, con của người đang có vợ/chồng kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn này. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú (hoặc nơi thường trú cuối cùng) của công dân Việt Nam có thẩm quyền giải quyết.
Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
- Xác định pháp luật áp dụng: Quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợ chồng được xác định theo pháp luật của nước nơi họ thường trú chung tại thời điểm phát sinh tranh chấp; nếu không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật của nước nơi thường trú chung cuối cùng; nếu chưa từng có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
- Bất động sản: Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng liên quan đến bất động sản tại Việt Nam bắt buộc phải tuân theo pháp luật Việt Nam.
- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam có thẩm quyền giải quyết. Nếu tranh chấp liên quan đến bất động sản tại Việt Nam thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản đó.
Quy định về ly hôn
- Pháp luật áp dụng: Việc ly hôn và các vấn đề phát sinh được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng tại thời điểm nộp đơn; nếu không có nơi thường trú chung thì theo nơi thường trú chung cuối cùng; nếu chưa từng có thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
- Công nhận bản án ly hôn nước ngoài: Việc ly hôn đã giải quyết ở nước ngoài phù hợp với pháp luật nước đó được công nhận tại Việt Nam nếu tại thời điểm ly hôn có ít nhất một bên thường trú tại nước ngoài. Việc công nhận phải tuân theo Pháp lệnh về công nhận và thi hành bản án dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.
- Thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của bị đơn có thẩm quyền giải quyết; nếu bị đơn không thường trú tại Việt Nam thì thuộc về nơi thường trú của nguyên đơn. Trường hợp cả hai không thường trú tại Việt Nam nhưng có bất động sản tranh chấp khi ly hôn tại Việt Nam thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con; xác định cha, mẹ cho con
- Quyền và nghĩa vụ chung: Được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của cha mẹ và con; nếu không có thì theo nơi thường trú chung cuối cùng; nếu chưa từng có thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng: Xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của người yêu cầu cấp dưỡng tại thời điểm đưa đơn yêu cầu.
- Xác định cha, mẹ cho con: Tiến hành theo pháp luật của nước nơi thường trú của người con tại thời điểm có đơn yêu cầu.
- Thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của người nộp đơn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền, nghĩa vụ, nhận con ngoài giá thú và cấp dưỡng. Tòa án nơi thường trú của người con giải quyết tranh chấp xác định cha, mẹ cho con. Đối với việc tự nguyện nhận con ngoài giá thú, nếu cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam và con thường trú tại Việt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi con thường trú có thẩm quyền công nhận.
Quy định về nuôi con nuôi
- Điều kiện đối với người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi: Phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có tư cách đạo đức tốt, chưa bị tước quyền làm cha mẹ; có sức khỏe và điều kiện kinh tế bảo đảm nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; được cơ quan thẩm quyền nước họ xác nhận đủ điều kiện và việc nhận con nuôi được pháp luật nước họ công nhận. Người nhận nuôi phải cam kết định kỳ thông báo về sự phát triển của con nuôi cho đến khi con nuôi đủ 18 tuổi.
- Pháp luật áp dụng: Quyền, nghĩa vụ và việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước mà người nhận nuôi là công dân; nếu cha mẹ nuôi khác quốc tịch thì áp dụng pháp luật nước nơi thường trú của con nuôi. Việc công dân Việt Nam nhận con nuôi là người nước ngoài đã đăng ký tại cơ quan thẩm quyền nước ngoài được công nhận tại Việt Nam.
- Thẩm quyền đăng ký và giải quyết tranh chấp: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam đăng ký việc nuôi con nuôi. Nếu con nuôi là công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam thực hiện đăng ký sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Tư pháp Việt Nam. Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết các tranh chấp liên quan.
Quy định về đỡ đầu
- Điều kiện và nguyên tắc: Việc xác lập, thay đổi, chấm dứt đỡ đầu phải tuân theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Người đỡ đầu và người được đỡ đầu bắt buộc phải có cùng một nơi thường trú.
- Quyền và nghĩa vụ: Được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của người đỡ đầu và người được đỡ đầu.
- Thẩm quyền giải quyết: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của người được đỡ đầu giải quyết việc xác lập, thay đổi, chấm dứt đỡ đầu. Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam giải quyết nếu người được đỡ đầu là công dân Việt Nam ở nước ngoài (sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Tư pháp). Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của người được đỡ đầu giải quyết các tranh chấp phát sinh.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 3 năm 1994. Tất cả các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng của mình có trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 28-L/CTN | Hà Nội, ngày 02 tháng 12 năm 1993 |
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật Tổ chức Quốc hội,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá IX) thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1993.
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Căn cứ vào các điều 14, 75, 81 và 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình;
Pháp lệnh này quy định về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
2- Trong quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài được hưởng quyền và có nghĩa vụ như pháp luật Việt Nam quy định cho công dân Việt Nam.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài, phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế.
3- Trong pháp lệnh này, "Người nước ngoài" được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam.
Quản lý Nhà nước bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Soạn thảo các dự án luật và pháp lệnh trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; ban hành văn bản pháp quy thi hành Luật hôn nhân và gia đình và Pháp lệnh này;
b) Chỉ đạo và hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
c) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
d) Thực hiện việc bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài;
đ) Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
2- Bộ tư pháp thực hiện việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
3- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ở địa phương mình theo quy định của Chính phủ.
2- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, đỡ đầu tại nước ngoài giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của pháp luật; có trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam tại nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình với người nước ngoài.
3- Toà án nhân dân có thẩm quyền huỷ việc kết hôn trái pháp luật, xét xử các vụ án về ly hôn, giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, của cha mẹ và con, về nhận con ngoài giá thú, về yêu cầu cấp dưỡng, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Các giấy tờ, tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và được chứng thực hợp pháp.
Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định tại các điều 5, 6 và 7 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, không bị nhiễm HIV và được cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân xác nhận có đủ điều kiện kết hôn và việc kết hôn đó được pháp luật nước họ công nhân.
2- Công dân Việt Nam đang phục vụ trong Quân đội, trong các ngành liên quan đến bí mật quốc gia, khi kết hôn với người nước ngoài phải được cơ quan chủ quản xác nhận việc họ kết hôn với người nước ngoài không trái quy chế của ngành đó quy định.
3- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo nghi thức kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.
Chính phủ quy định thủ tục kết hôn giữa công dân việt nam với người nước ngoài.
4- Việc kết hôn giữa công dân việt nam với người nước ngoài được tiến hành ở nước ngoài và tuân theo pháp luật nước đó về nghi thức kết hôn thì được công nhận tại Việt Nam, trừ trường hợp việc kết hôn đó có ý định rõ ràng là để lẩn tránh quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn.
Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam có thẩm quyền đăng ký kết hôn tại nước tiếp nhận giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nếu việc đăng ký không trái với pháp luật của nước đó.
Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền của Việt Nam huỷ việc kết hôn trái pháp luật đó.
2- Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ cũng như quyền lợi của con được giải quyết theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Mục 3: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG
Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng liên quan đến bất động sản có tại Việt Nam được xác định theo pháp luật Việt Nam.
2- Trong trường hợp pháp luật Việt Nam được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được xác định theo quy định tại các điều từ Điều 10 đến Điều 18 của Luật hôn nhân và gia đình.
Nếu việc tranh chấp liên quan đến bất động sản có tại Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có bất động sản.
Trong trường hợp pháp luật Việt Nam được áp dụng thì việc giải quyết ly hôn, chia tài sản, giao con chưa thành niên cho vợ hoặc chồng nuôi dưỡng, cũng như quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con chung được xác định theo quy định tại các điều từ Điều 40 đến Điều 45 của Luật Hôn nhân và gia đình.
2- Việc ly hôn của công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được giải quyết ở nước ngoài và phù hợp với pháp luật nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm ly hôn có ít nhất một người thường trú tại nước ngoài.
Việc công nhận bản án, quyết định ly hôn của Toà án nước ngoài phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài.
Trong trường hợp cả bị đơn và nguyên đơn đều không có nơi thường trú tại Việt Nam, nhưng có bất động sản tại Việt Nam liên quan đến việc chia tài sản khi ly hôn, thì thẩm quyền giải quyết việc chia bất động sản đó thuộc Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có bất động sản.
Mục 1: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VÀ CON; XÁC ĐỊNH CHA, MẸ CHO CON
Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của người yêu cầu cấp dưỡng vào thời điểm đưa đơn yêu cầu.
2- Việc xác định cha, mẹ cho con được tiến hành theo pháp luật của nước nơi thường trú của người con vào thời điểm có đơn yêu cầu.
3- Trong trường hợp pháp luật Việt Nam được áp dụng theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con, quan hệ giữa các con, nguyên tắc xác nhận cha, mẹ cho con được xác định theo quy định tại các điều từ Điều 19 đến Điều 29, Điều 31 và Điều 32 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú của người con có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về việc xác định cha, mẹ cho con.
2- Đối với việc cha mẹ nhận con ngoài giá thú, nếu cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam và người con có nơi thường trú tại Việt Nam thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thường trú của người con có thẩm quyền công nhận.
Người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải có các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo pháp luật của nước mà người đó là công dân;
b) Có tư cách đạo đức tốt và chưa hề bị tước quyền làm cha, mẹ;
c) Có sức khoẻ và khả năng kinh tế bảo đảm việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con nuôi;
d) Được cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân xác nhận có đủ điều kiện nuôi con nuôi và việc nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được pháp luật nước họ công nhận.
Khi nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, người nước ngoài phải cam kết định kỳ thông báo cho cơ quan Nhà nước quy định tại
Chính phủ quy định thủ tục về việc người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.
2- Quyền và nghĩa vụ của người nuôi con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người nuôi là công dân; nếu cha mẹ nuôi có quốc tịch khác nhau, thì áp dụng pháp luật của nước nơi thường trú của con nuôi.
Trong trường hợp pháp luật Việt Nam được áp dụng theo quy định tại đoạn 1 khoản này, cũng như trong trường hợp việc nuôi con nuôi được thực hiện tại Việt Nam, thì quyền và nghĩa vụ của người nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo quy định tại các điều từ Điều 19 đến Điều 27 và Điều 39 của Luật Hôn nhân và gia đình.
3- Việc công dân Việt Nam nuôi con nuôi là người nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì được công nhận tại Việt Nam.
Trong trường hợp con nuôi là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam có thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi đó, nếu việc đăng ký không trái với pháp luật của nước tiếp nhận; vi đệcăng ký được thực hiện sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Tư pháp Việt Nam đối với từng trường hợp.
2- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú của công dân Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến việc cho và nhận con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; trong trường hợp con nuôi là công dân Việt Nam và không còn thường trú tại Việt Nam, thì thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người đó.
3- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú của con nuôi có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa người nuôi và con nuôi.
Người đỡ đầu và người được đỡ đầu phải có cùng một nơi thường trú.
2- Quyền và nghĩa vụ của người được đỡ đầu và người đỡ đầu được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của họ.
Trong trường hợp người được đỡ đầu và người đỡ đầu cùng thường trú tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ của họ được xác định theo quy định tại Điều 49 và Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Trong trường hợp người được đỡ đầu là công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam có thẩm quyền giải quyết việc đỡ đầu đó, nếu không trái với pháp luật của nước tiếp nhận; việc giải quyết được thực hiện sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Tư pháp Việt Nam đối với từng trường hợp.
2- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi thường trú của người được đỡ đầu có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.
2- Pháp luật áp dụng trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 6 và khoản 1, khoản 2 Điều 16 của Pháp lệnh này đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó thường trú; nếu người đó không có nơi thường trú thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 3 năm 1994.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
| Lê Đức Anh (Đã ký) |