Pháp lệnh quy định chế độ phục vụ của sỹ quan công an nhân dân vũ trang được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 9 tháng 8 năm 1961 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố. Văn bản này thiết lập hệ thống quy định toàn diện về chế độ phục vụ, tuyển chọn, phong thăng quân hàm, bổ nhiệm chức vụ và hạn tuổi phục vụ của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang, dựa trên cơ sở vận dụng các quy định của Luật về chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1958.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh áp dụng trực tiếp đối với toàn bộ sĩ quan Công an nhân dân vũ trang tại ngũ và sĩ quan thuộc ngạch dự bị. Chế độ phục vụ của lực lượng này về cơ bản tuân thủ theo các quy định đối với sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, ngoại trừ một số điểm đặc thù được điều chỉnh riêng biệt để phù hợp với tính chất hoạt động của lực lượng Công an nhân dân vũ trang.
Nguồn bổ sung vào đội ngũ sĩ quan tại ngũ
Đội ngũ sĩ quan Công an nhân dân vũ trang tại ngũ được bổ sung từ các nguồn cụ thể sau:
- Sĩ quan Quân đội nhân dân và quân nhân tốt nghiệp các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng được điều động, chuyển ngành sang Công an nhân dân vũ trang.
- Cán bộ thuộc ngành Công an và cán bộ từ các ngành dân chính đảng khác được điều động, chuyển sang phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang.
- Học viên tốt nghiệp các trường đào tạo cán bộ trực thuộc Bộ Công an.
- Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang thuộc ngạch dự bị được gọi ra phục vụ tại ngũ theo diện cá nhân hoặc thông qua lệnh tổng động viên.
- Hạ sĩ quan và binh sĩ đang phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang lập được chiến công anh dũng, linh hoạt trong chiến đấu hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác.
Tiêu chuẩn và thẩm quyền phong, thăng, giáng cấp bậc sĩ quan
Việc quản lý cấp bậc sĩ quan được thực hiện chặt chẽ dựa trên năng lực thực tế và thẩm quyền phân cấp rõ rệt:
- Tiêu chuẩn phong cấp: Việc xét phong cấp bậc dựa trên phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, cấp bậc, chức vụ hiện tại, thành tích phục vụ và công lao đóng góp cho cách mạng. Học viên tốt nghiệp các trường đào tạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hoặc hạ sĩ quan, binh sĩ lập chiến công xuất sắc có thể được phong quân hàm Thiếu úy. Cán bộ ngành khác chuyển sang sẽ được phong Thiếu úy hoặc cấp bậc cao hơn tùy thuộc vào đức và tài.
- Thẩm quyền phong, thăng, giáng cấp bậc: Đối với cấp bậc từ Thượng tá trở lên, thực hiện theo các quy định tương đương áp dụng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Đối với cấp bậc từ Trung tá trở xuống, do Bộ trưởng Bộ Công an ra quyết định phong cấp; riêng việc thăng cấp bậc Trung úy và Thượng úy sẽ do Tư lệnh và Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang quyết định. Cấp nào có thẩm quyền quyết định thăng cấp bậc thì đồng thời có thẩm quyền quyết định giáng cấp bậc đó.
- Nguyên tắc thăng, giáng cấp bậc: Mỗi lần thăng hoặc giáng cấp nói chung chỉ được thực hiện một bậc. Trong trường hợp đặc biệt cần thăng vượt bậc hoặc giáng nhiều bậc: từ Thượng tá trở lên thực hiện theo quy định của Quân đội; từ Thiếu úy đến Trung tá (đối với thăng vượt bậc) và từ Trung tá trở xuống (đối với giáng nhiều bậc) do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
- Niên hạn thăng cấp: Tiêu chuẩn và niên hạn tối thiểu để xét thăng cấp bậc áp dụng tương tự như sĩ quan Quân đội nhân dân. Thời gian học tập tại các trường quân sự, chính trị, nghiệp vụ được tính vào niên hạn thăng cấp.
Chức vụ tương đương và thẩm quyền bổ nhiệm, đình chỉ chức vụ
Mỗi cấp bậc sĩ quan gắn liền với một chức vụ tương đương trong biên chế do Hội đồng Chính phủ quy định. Thẩm quyền bổ nhiệm, giáng chức, bãi chức và đình chỉ chức vụ được quy định cụ thể:
- Thẩm quyền bổ nhiệm, giáng chức, bãi chức: Đối với các chức vụ tương đương cấp bậc từ Thượng tá trở lên, áp dụng theo quy định đối với sĩ quan cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân. Đối với các chức vụ tương đương cấp bậc từ Trung tá trở xuống, do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định. Bộ trưởng có thể ủy quyền cho Tư lệnh và Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang quyết định đối với các chức vụ tương đương cấp Đại úy trở xuống.
- Quyền đình chỉ chức vụ trong trường hợp khẩn cấp: Thủ trưởng đơn vị từ cấp Đại úy trở lên có quyền quyết định đình chỉ chức vụ tạm thời đối với sĩ quan dưới quyền mình hai bậc và chỉ định người thay thế tạm thời, đồng thời phải lập tức báo cáo lên cấp trên để xét duyệt.
Chế độ xuất ngũ, ngạch dự bị và quản lý sĩ quan dự bị
Quy định về việc chuyển ngạch và quản lý sĩ quan khi không còn phục vụ tại ngũ:
- Điều kiện xuất ngũ, chuyển ngạch: Các điều kiện cho sĩ quan tại ngũ xuất ngũ, chuyển sang ngạch dự bị hoặc giải ngạch dự bị tuân thủ theo quy định của Quân đội nhân dân, ngoại trừ giới hạn tuổi tác được áp dụng riêng.
- Thẩm quyền chuẩn y xuất ngũ, chuyển ngạch: Đối với cấp bậc từ Thượng tá trở lên, thực hiện theo quy định của Quân đội nhân dân. Đối với cấp bậc Đại úy, Thiếu tá, Trung tá, do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định. Đối với cấp bậc Thiếu úy, Trung úy, Thượng úy, do Tư lệnh và Chính ủy Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang quyết định.
- Quản lý sĩ quan dự bị: Sĩ quan dự bị đăng ký vào hệ thống dự bị chung của Bộ Quốc phòng. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm bồi dưỡng, huấn luyện quân sự. Bộ Công an chịu trách nhiệm bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn, quyết định việc sử dụng, thăng thưởng và xử lý kỷ luật. Sĩ quan dự bị có nghĩa vụ tham gia đầy đủ các lớp huấn luyện và có thể được Bộ trưởng Bộ Công an (hoặc cấp dưới được ủy quyền) gọi trở lại phục vụ tại ngũ trong thời bình tùy theo nhu cầu công tác.
Hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang
Hạn tuổi phục vụ tối đa được phân định rõ ràng theo từng cấp bậc và ngạch phục vụ (Tại ngũ / Dự bị hạng 1 / Dự bị hạng 2) như sau:
- Cấp bậc Thiếu úy và Trung úy: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ tối đa là 38 tuổi; dự bị hạng 1 là 43 tuổi; dự bị hạng 2 là 48 tuổi.
- Cấp bậc Thượng úy và Đại úy: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ tối đa là 43 tuổi; dự bị hạng 1 là 48 tuổi; dự bị hạng 2 là 53 tuổi.
- Cấp bậc Thiếu tá: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ tối đa là 48 tuổi; dự bị hạng 1 là 53 tuổi; dự bị hạng 2 là 58 tuổi.
- Cấp bậc Trung tá và Thượng tá: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ tối đa là 53 tuổi; dự bị hạng 1 là 58 tuổi; dự bị hạng 2 là 63 tuổi.
- Cấp bậc Đại tá: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ tối đa là 55 tuổi; dự bị hạng 1 là 58 tuổi; dự bị hạng 2 là 63 tuổi.
- Cấp bậc Thiếu tướng: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ tối đa là 58 tuổi; dự bị hạng 1 là 60 tuổi; dự bị hạng 2 là 65 tuổi.
- Quy định về kéo dài thời hạn phục vụ: Tùy thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ thực tế của lực lượng, Bộ trưởng Bộ Công an có thẩm quyền quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ đối với từng sĩ quan từ cấp Đại tá trở xuống. Đối với cấp Thiếu tướng, việc kéo dài thời hạn tại ngũ do Thủ tướng Chính phủ quyết định dựa trên đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh quy định chế độ phục vụ của sỹ quan công an nhân dân vũ trang năm 1961 chính thức có hiệu lực kể từ ngày được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua (ngày 9 tháng 8 năm 1961).
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 48/LCT | Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 1961 |
PHÁP LỆNH
QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ PHỤC VỤ CỦA SĨ QUAN CÔNG AN NHÂN DÂN VŨ TRANG
Để đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân vũ trang, tăng cường việc bảo vệ an ninh nội địa, bảo vệ biên giới và bờ biển của Tổ quốc;
Để xác định nhiệm vụ, quyền hạn, vinh dự cho cán bộ Công an nhân dân vũ trang, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và ý thức kỷ luật của cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân vũ trang;
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang như sau:
Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang phục vụ theo chế độ đã được quy định trong luật ngày 29-4-1958 về chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, trừ những điểm không thích hợp thì theo những quy định dưới đây:
Những người sau đây được bổ sung vào đội ngũ sĩ quan Công an nhân dân vũ trang tại ngũ:
a) Sĩ quan quân đội nhân dân và quân nhân tốt nghiệp các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng được chuyển sang Công an nhân dân vũ trang;
b) Cán bộ công an và cán bộ các ngành khác được chuyển sang Công an nhân dân vũ trang;
c) Những người tốt nghiệp các trường đào tạo cán bộ của Bộ Công an;
d) Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang dự bị được gọi ra từng người hoặc được tổng động viên;
đ) Hạ sĩ quan và binh sĩ Công an nhân dân vũ trang trong khi chiến đấu đã tỏ ra anh dũng, linh hoạt, lập được chiến công, hoặc trong công tác đã có thành tích xuất sắc.
Việc xét phong cấp bậc sĩ quan Công an nhân dân vũ trang cho cán bộ căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực, cấp bậc, chức vụ hiện tại, thành tích phục vụ và công lao đối với cách mạng của từng cán bộ.
Những người tốt nghiệp các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng, trường đào tạo cán bộ của Bộ Công an, những hạ sĩ quan và binh sĩ trong khi chiến đấu đã tỏ ra anh dũng, linh hoạt, lập được chiến công, hoặc trong công tác đã có thành tích xuất sắc, thì có thể được phong thiếu uý.
Những cán bộ công an và cán bộ các ngành khác được chuyển sang Công an nhân dân vũ trang, tuỳ đức tài, có thể được phong thiếu uý hoặc phong cấp bậc cao hơn.
Về việc phong cấp bậc, thăng hoặc giáng cấp bậc đối với sĩ quan Công an nhân dân vũ trang, nay quy định như sau:
a) Việc phong cấp bậc từ thượng tá trở lên theo như quy định đối với cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân; việc phong cấp bậc từ trung tá trở xuống thì do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định;
b) Việc thăng lên các cấp bậc từ thượng tá trở lên theo như quy định đối với cấp bậc tương đương trong quân đội nhân dân; việc thăng lên các cấp bậc đại uý, thiếu tá và trung tá thì do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định; việc thăng lên các cấp bậc trung uý và thượng uý thì do Tư lệnh và Chính uỷ Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang quyết định;
c) Cấp có thẩm quyền cho thăng lên cấp bậc nào thì có thẩm quyền giáng cấp bậc đối với cấp bậc ấy.
Mỗi lần thăng hoặc giáng cấp bậc của sĩ quan, nói chung chỉ được thăng hoặc giáng một bậc.
Trong trường hợp đặc biệt cần thăng vượt bậc lên các cấp bậc từ thượng tá trở lên thì theo như quy định đối với cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân; từ thiếu uý cho đến trung tá thì do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
Trong trường hợp phải giáng xuống nhiều bậc thì từ thượng tá trở lên theo như quy định đối với cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân; từ trung tá trở xuống thì do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
Tiêu chuẩn và niên hạn tối thiểu của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang tại ngũ để xét thăng cấp bậc theo như tiêu chuẩn và niên hạn quy định đối với sĩ quan Quân đội nhân dân.
Thời hạn học tập tại các trường quân sự, chính trị và nghiệp vụ được tính vào niên hạn thăng cấp bậc của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang.
Mỗi cấp bậc sĩ quan Công an nhân dân vũ trang có một chức vụ trương đương trong biên chế của Công an nhân dân vũ trang do Hội đồng Chính phủ quy định.
Về việc bổ nhiệm, giáng chức và bãi chức đối với sĩ quan Công an nhân dân vũ trang, nay quy định như sau:
a) Đối với những chức vụ tương đương với các cấp bậc từ thượng tá trở lên thì theo như quy định đối với sĩ quan cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân;
b) Đối với những chức vụ tương đương với các cấp bậc từ trung tá trở xuống thì do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
Bộ trưởng Bộ Công an có thể uỷ quyền cho Tư lệnh và Chính uỷ Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang quyết định đối với các chức vụ tương đương với các cấp bậc từ đại uý trở xuống.
Trong trường hợp khẩn cấp, thủ trưởng đơn vị từ cấp đại uý trở lên có quyền quyết định đình chỉ chức vụ của sĩ quan thuộc dưới quyền mình hai bậc và chỉ định người thay thế, đồng thời phải báo cáo ngay lên cấp trên để xét duyệt.
Điều kiện cho sĩ quan Công an nhân dân vũ trang tại ngũ được xuất ngũ, chuyển sang ngạch dự bị hoặc giải ngạch dự bị theo như điều kiện quy định đối với sĩ quan Quân đội nhân dân; riêng điều kiện tuổi thì theo điều 13 của pháp lệnh này.
Về việc chuẩn y cho sĩ quan Công an nhân dân vũ trang xuất ngũ, chuyển sang ngạch dự bị hoặc giải ngạch dự bị, nay quy định như sau:
a) Đối với sĩ quan cấp bậc từ thượng tá trở lên thì theo như quy định đối với sĩ quan cấp bậc tương đương trong Quân đội nhân dân;
b) Đối với sĩ quan cấp bậc đại uý, thiếu tá và trung tá thì do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định;
c) Đối với sĩ quan cấp bậc thiếu uý, trung uý và thượng uý thì do Tư lệnh và Chính uỷ Bộ Tư lệnh công an nhân dân vũ trang quyết định.
Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang dự bị sẽ đăng ký vào hệ thống dự bị chung của Bộ Quốc phòng. Bộ Quốc phòng phụ trách việc bồi dưỡng và huấn luyện cho họ về quân sự. Bộ Công an phụ trách việc bồi dưỡng và huấn luyện cho họ về nghiệp vụ và quyết định việc sử dụng, thăng thưởng và kỷ luật.
Sĩ quan Công an nhân dân vũ trang dự bị có nhiệm vụ tham gia những lớp huấn luyện quân sự và nghiệp vụ theo quy định của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Tuỳ theo nhu cầu công tác, trong thời bình, sĩ quan Công an nhân dân vũ trang dự bị có thể được gọi ra phục vụ tại ngũ theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc của cấp chỉ huy được Bộ trưởng Bộ Công an uỷ quyền.
Hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan Công an nhân dân vũ trang tại ngũ, dự bị hạng 1 và dự bị hạng 2 quy định như sau:
| | Tại ngũ | Dự bị hạng 1 | Dự bị hạng 2 |
| Thiếu uý | 38 tuổi | 43 tuổi | 48 tuổi |
| Trung uý | 38 - | 43 - | 48 - |
| Thượng uý | 43 - | 48 - | 53 - |
| Đại uý | 43 - | 48 - | 53 - |
| Thiếu tá | 48 - | 53 - | 58 - |
| Trung tá | 53 - | 58 - | 63 - |
| Thượng tá | 53 - | 58 - | 63 - |
| Đại tá | 55 - | 58 - | 63 - |
| Thiếu tướng | 58 - | 60 - | 65 - |
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |