Pháp lệnh Quy định việc xét và giải quyết các khiếu tố, tố cáo của công dân năm 1981 được ban hành nhằm bảo đảm quyền dân chủ của công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan Nhà nước. Pháp lệnh quy định chi tiết về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các hành vi trái pháp luật, trái chính sách của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đồng thời xác định rõ thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể và quyền lợi hợp pháp của công dân.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi vi phạm của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất kỳ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức đó. Đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp về mặt trách nhiệm bao gồm các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu tố, các tổ chức, cá nhân bị khiếu nại, tố cáo, cùng các cơ quan thanh tra, kiểm sát và giám sát tư pháp.
Nguyên tắc cơ bản trong giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Quyền và nghĩa vụ của công dân: Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất kỳ cơ quan Nhà nước nào khi phát hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích chung hoặc quyền lợi chính đáng của mình. Người bị thiệt hại có quyền được khôi phục danh dự và được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước: Các cơ quan Nhà nước có nghĩa vụ tiếp nhận, xét và giải quyết khiếu tố theo đúng chính sách, pháp luật và thời hạn quy định; xử lý nghiêm minh người vi phạm, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và bảo đảm quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh.
- Nghiêm cấm hành vi vi phạm: Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở, trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc bao che cho người bị khiếu nại, tố cáo.
Quy trình tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu tố
- Chế độ tiếp dân: Các cơ quan Nhà nước phải thiết lập chế độ tiếp dân định kỳ, niêm yết công khai ngày, giờ và địa điểm tiếp dân để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu tố.
- Tiếp nhận và phân loại: Mọi khiếu nại, tố cáo phải được ghi vào sổ nhận đơn. Trường hợp công dân trình bày trực tiếp bằng miệng, cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản ghi đầy đủ nội dung và yêu cầu đương sự ký xác nhận.
- Chuyển đơn sai thẩm quyền: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận đơn, nếu xác định vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, cơ quan nhận đơn phải chuyển đến cơ quan có thẩm quyền và thông báo bằng văn bản cho đương sự biết.
- Xử lý thông tin từ báo chí: Các khiếu nại, tố cáo do cơ quan báo chí, đài phát thanh, truyền hình chuyển đến hoặc đăng tải phải được các cơ quan hữu quan xem xét, giải quyết theo đúng quy định của Pháp lệnh.
- Bảo mật thông tin: Tuyệt đối nghiêm cấm việc tiết lộ danh tính người tố cáo, cấm chuyển đơn tố cáo hoặc bản sao đơn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tố cáo. Không chuyển đơn khiếu nại cho bên bị khiếu nại nếu việc đó có thể gây hại cho người khiếu nại.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Thủ trưởng cơ quan, tổ chức giải quyết khiếu nại đối với nhân viên thuộc quyền quản lý. Đối với khiếu nại hướng vào thủ trưởng cơ quan, thủ trưởng cấp trên trực tiếp sẽ giải quyết. Đối với Ban quản trị hợp tác xã hoặc Ban quản lý tập đoàn sản xuất, Ủy ban nhân dân trực tiếp quản lý có trách nhiệm giải quyết.
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo: Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết tố cáo đối với nhân viên thuộc cơ quan đó. Đối với tố cáo thủ trưởng cơ quan, thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc cao hơn một cấp sẽ giải quyết. Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết tố cáo đối với Ban quản trị hợp tác xã, tập đoàn sản xuất.
- Giải quyết khiếu tố cấp cao: Chủ tịch UBND cấp tỉnh và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng giải quyết các vụ việc đã được cấp dưới giải quyết nhưng đương sự vẫn tiếp tục khiếu tố. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giải quyết khiếu tố đối với Bộ trưởng, Chủ tịch tỉnh hoặc các quyết định giải quyết của cấp dưới có sai lầm.
- Vai trò của cơ quan Thanh tra: Ủy ban Thanh tra của Chính phủ có trách nhiệm xem xét, trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giải quyết các khiếu tố đối với thủ trưởng ngành trung ương hoặc Chủ tịch tỉnh, đồng thời kiến nghị giải quyết lại các quyết định sai lầm của cấp dưới.
- Tòa án, Viện kiểm sát và các đoàn thể: Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân giải quyết khiếu tố thuộc thẩm quyền tư pháp theo thủ tục luật định. Các đoàn thể nhân dân giải quyết khiếu tố đối với thành viên trong nội bộ tổ chức của mình.
Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Thời hạn giải quyết khiếu nại: Tối đa không quá 01 tháng đối với cấp xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị cơ sở; tối đa không quá 03 tháng đối với các cấp quản lý khác kể từ ngày nhận đơn.
- Thời hạn giải quyết tố cáo: Tối đa không quá 02 tháng đối với cấp xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị cơ sở; tối đa không quá 06 tháng đối với các cấp quản lý khác.
- Quy định về gia hạn: Đối với các vụ việc phức tạp cần điều tra kéo dài, cơ quan giải quyết phải báo cáo xin phép cơ quan cấp trên trực tiếp để gia hạn. Thời gian gia hạn tối đa không được quá gấp đôi thời hạn thông thường và phải thông báo cho đương sự biết sau khi được phê duyệt.
Công tác quản lý, giám sát và kiểm sát
- Quản lý nhà nước: Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý công tác giải quyết khiếu tố trên phạm vi cả nước. Ủy ban nhân dân các cấp quản lý công tác này trong phạm vi địa phương.
- Giám sát của đại biểu dân cử: Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận, chuyển đơn khiếu tố của công dân đến cơ quan có thẩm quyền, theo dõi quá trình giải quyết và thông báo kết quả cho người dân.
- Đôn đốc của cơ quan Thanh tra: Hệ thống Thanh tra các cấp có quyền đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chế độ tiếp dân, giải quyết khiếu tố và yêu cầu áp dụng biện pháp chấm dứt vi phạm. Cơ quan nhận yêu cầu phải trả lời Thanh tra trong vòng 15 ngày.
- Kiểm sát của Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức trong công tác giải quyết khiếu tố của công dân.
- Chế độ báo cáo: Hội đồng Bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo thường kỳ trước Hội đồng Nhà nước; Ủy ban nhân dân và Tòa án nhân dân địa phương báo cáo trước Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác này.
Chế tài xử lý vi phạm
- Xử lý hành chính: Người có trách nhiệm tiếp nhận, chuyển, giải quyết khiếu tố mà không chấp hành đúng quy định của Pháp lệnh sẽ bị xử lý kỷ luật hành chính.
- Hình phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm: Áp dụng đối với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu tố, cản trở giải quyết hoặc cố tình không chấp hành quyết định giải quyết của cơ quan có thẩm quyền gây thiệt hại cho người khiếu tố.
- Hình phạt tù từ 6 tháng đến 6 năm: Áp dụng đối với hành vi trả thù người khiếu nại, tố cáo. Nếu hành vi trả thù cấu thành tội phạm khác có hình phạt nặng hơn thì áp dụng theo quy định của pháp luật hình sự tương ứng.
- Xử lý hành vi vu cáo: Người nào lợi dụng quyền khiếu tố để cố ý xuyên tạc sự thật, vu cáo người khác hoặc vu cáo cơ quan, tổ chức thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.
Hiệu lực và hướng dẫn thi hành
Pháp lệnh giao trách nhiệm cho Hội đồng Bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh này trên toàn quốc.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5-LCT/HĐNN7 | Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 1981 |
PHÁP LỆNH
QUY ĐỊNH VIỆC XÉT VÀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
Để tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đối với nhân viên các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó, nhằm góp phần xây dựng mối quan hệ đúng đắn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân;
Để bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo của công dân;
Để xác định nghĩa vụ và nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng và ban lãnh đạo các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, và đơn vị vũ trang nhân dân trong việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân;
Căn cứ vào Điều 73 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, và đơn vị vũ trang nhân dân (dưới đây gọi tắt là cơ quan và tổ chức), hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan và tổ chức đó làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân.
Các cơ quan Nhà nước có nghĩa vụ và trách nhiệm xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
Các khiếu nại, tố cáo đối với cơ quan, tổ chức hoặc nhân viên thuộc quyền quản lý của ngành hoặc cấp nào thì ngành hoặc cấp đó có trách nhiệm xét và giải quyết.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo theo đúng chính sách, pháp luật, trong thời hạn quy định của Pháp lệnh này; phải xử lý nghiêm minh những người vi phạm; đề ra biện pháp sửa chữa những vi phạm và bảo đảm cho quyết định của mình được thi hành nghiêm chỉnh; phải tìm nguyên nhân gây ra việc khiếu nại, tố cáo để giúp cơ quan, tổ chức hoặc nhân viên thuộc quyền sửa chữa khuyết điểm, sai lầm và cải tiến công tác.
Cơ quan, tổ chức hoặc nhân viên bị khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm thi hành kịp thời các biện pháp nhằm sửa chữa những vi phạm, theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Người bị thiệt hại có quyền được khôi phục danh dự và được bồi thường. Cơ quan, tổ chức hoặc nhân viên gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo.
Thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức, khi thấy trong đơn vị mình xảy ra những vi phạm chính sách, pháp luật thì phải kịp thời giải quyết, để giảm bớt các khiếu nại, tố cáo.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở, trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc bao che cho người bị khiếu nại, tố cáo.
VIỆC TIẾP NHẬN CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Công dân có thể gửi đơn hoặc trực tiếp đến cơ quan Nhà nước hữu quan để khiếu nại, tố cáo. Các cơ quan này có nhiệm vụ nhận đơn và tiếp đương sự.
Các cơ quan Nhà nước phải có chế độ định kỳ tiếp dân. Ngày, giờ và nơi tiếp phải được niêm yết công khai.
Cơ quan Nhà nước nhận khiếu nại, tố cáo phải ghi vào sổ nhận. Nếu đương sự đến trình bày miệng thì phải ghi đầy đủ nội dung sự việc, và bản ghi đó phải được đương sự ký xác nhận.
Nếu thấy việc khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền xét và giải quyết của mình, thì cơ quan nhận khiếu nại, tố cáo phải chuyển đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và báo cho đương sự biết trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận. Trong trường hợp đương sự trực tiếp đến khiếu nại, tố cáo thì hướng dẫn đương sự đến cơ quan có thẩm quyền.
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải báo cho đương sự biết khi nhận được khiếu nại, tố cáo chuyển đến.
Các khiếu nại, tố cáo của công dân do các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình chuyển đến, các tin tức, tài liệu công bố trên báo chí hoặc trên đài có liên quan đến việc khiếu nại, tố cáo của công dân, phải được các cơ quan, tổ chức hữu quan xét và giải quyết theo quy định của Pháp lệnh này.
Cấm tiết lộ hoặc chuyển đơn tố cáo, bản sao đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo của đương sự cho cơ quan, tổ chức hoặc người bị tố cáo.
Không được chuyển các khiếu nại cho cơ quan, tổ chức hoặc người bị khiếu nại, nếu thấy có hại cho người khiếu nại.
THẨM QUYỀN VÀ THỜI HẠN XÉT VÀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Các khiếu nại đối với các nhân viên thuộc cơ quan, tổ chức nào thì thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm xét và giải quyết.
Các khiếu nại đối với thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức nào thì thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm xét và giải quyết.
Các khiếu nại đối với Chủ nhiệm hoặc Ban quản trị hợp tác xã, đối với Tập đoàn trưởng hoặc Ban quản lý tập đoàn sản xuất nào thì Uỷ ban nhân dân trực tiếp quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất đó có trách nhiệm xét và giải quyết.
Các tố cáo đối với nhân viên thuộc cơ quan, tổ chức nào thì thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm xét và giải quyết.
Các tố cáo đối với thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cơ quan, tổ chức nào thì tuỳ tính chất sự việc, thủ trưởng hoặc ban lãnh đạo cấp trên trực tiếp hoặc cao hơn một cấp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm xét và giải quyết.
Các tố cáo đối với Chủ nhiệm hoặc Ban quản trị hợp tác xã, đối với Tập đoàn trưởng hoặc Ban quản lý tập đoàn sản xuất thì Uỷ ban nhân dân huyện hoặc cấp tương đương có trách nhiệm xét và giải quyết.
Sau khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đã giải quyết, nếu đương sự không đồng ý, thì có thể khiếu nại, tố cáo lên cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó.
Các cơ quan Nhà nước, khi xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo, có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp những tài liệu cần thiết. Cơ quan, tổ chức được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó.
Uỷ ban nhân dân các cấp, trước khi giải quyết các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến công tác quản lý của cơ quan ngành dọc cấp trên nào, thì phải trao đổi ý kiến với cơ quan đó.
Các cơ quan ngành dọc cấp trên, trước khi giải quyết các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến công tác quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp dưới nào, thì phải trao đổi ý kiến với Uỷ ban nhân dân đó.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có trách nhiệm xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo mà thủ trưởng cơ quan thuộc quyền hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp đã giải quyết, nhưng đương sự còn khiếu nại, tố cáo.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo mà thủ trưởng cơ quan thuộc quyền đã giải quyết, nhưng đương sự còn khiếu nại, tố cáo.
Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm xét và giải quyết:
a) Các khiếu nại, tố cáo đối với Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương.
b) Các khiếu nại, tố cáo mà Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương đã xét và giải quyết, nhưng phát hiện có sai lầm.
Chủ nhiệm Uỷ ban thành tra của Chính phủ có trách nhiệm:
a) Xem xét và trình Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo về việc làm trái chính sách, pháp luật của thủ trưởng các ngành ở trung ương hoặc của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương.
b) Xem xét và kiến nghị giải quyết lại hoặc trình Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng giải quyết các khiếu nại, tố cáo mà Bộ trưởng, Chủ nhiệm uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương đã giải quyết, những phát hiện có sai lầm.
Chủ nhiệm Uỷ ban thanh tra các địa phương, Trưởng ban thanh tra các ngành có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, thủ trưởng ngành xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo quy định ở
Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp có trách nhiệm xét và giải quyết, theo thủ tục do pháp luật quy định, các khiếu nại, tố cáo về những việc thuộc thẩm quyền của mình.
Các đoàn thể nhân dân và tổ chức khác có trách nhiệm xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối với thành viên trong đoàn thể hoặc tổ chức, theo quy định của pháp luật và điều lệ hoạt động của mình.
Đối với các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước thì phải kịp thời chuyển đến các cơ quan đó xét và giải quyết.
Các khiếu nại thuộc quyền xét và giải quyết của cấp xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị cơ sở khác phải được xét và giải quyết chậm nhất không quá một tháng kể từ ngày nhận; đối với các cấp khác thì chậm nhất không quá ba tháng.
Các tố cáo thuộc quyền xét và giải quyết của cấp xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị cơ sở khác phải được xét và giải quyết chậm nhất không quá hai tháng kể từ ngày nhận; đối với các cấp khác thì chậm nhất không quá sáu tháng.
Đối với những việc phức tạp phải điều tra lâu thì cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo phải báo cáo lên cơ quan cấp trên trực tiếp để xin gia hạn, nhưng không được quá gấp đôi thời hạn đã quy định ở
VIỆC QUẢN LÝ, KIỂM TRA CÔNG TÁC XÉT VÀ GIẢI QUYẾT CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Hội đồng bộ trưởng quản lý trong phạm vi cả nước công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các ngành, các cấp trong việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng có trách nhiệm quản lý, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan thuộc quyền trong việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
Uỷ ban nhân dân quản lý trong phạm vi địa phương mình việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan thuộc quyền trong việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo.
Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nhận được các khiếu nại, tố cáo của công dân có trách nhiệm nghiên cứu và chuyển đến cơ quan Nhà nước hữu quan, theo dõi việc giải quyết và báo cho đương sự biết kết quả.
Cơ quan Nhà nước hữu quan phải báo cho đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân biết kết quả giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân do đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển đến.
Chủ nhiệm Uỷ ban thanh tra của Chính phủ, Chủ nhiệm Uỷ ban thanh tra các cấp, Trưởng ban thanh tra các ngành có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra việc thi hành chế độ tiếp nhận, xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ở các cấp, các ngành; có quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết nhằm chấm dứt các vi phạm đã dẫn đến khiếu nại, tố cáo. Cơ quan được yêu cầu phải trả lời cơ quan thanh tra trong thời hạn mười lăm ngày.
Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo thường kỳ trước Hội đồng Nhà nước về công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân báo cáo thường kỳ trước Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ở địa phương.
Viện kiểm sát nhân dân các cấp có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, tổ chức trong công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
VIỆC XỬ LÝ CÁC VI PHẠM
Người nào có trách nhiệm nhận, chuyển, xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân mà không chấp hành các quy định của Pháp lệnh này thì bị xử lý theo kỷ luật hành chính.
Người nào phạm một trong những tội sau đây thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo, hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo.
b) Có trách nhiệm chấp hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo mà cố tình không chấp hành, gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.
Người nào có hành vi trả thù người khiếu nại, tố cáo thì bị phạt tù từ sáu tháng đến sáu năm; nếu hành vi trả thù là tội phạm mà pháp luật quy định hình phạt nặng hơn thì bị xử phạt theo pháp luật đó.
Người nào lợi dụng quyền khiếu nại và tố cáo, cố ý xuyên tạc sự thật, vu cáo người khác hoặc vu cáo cơ quan, tổ chức thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Trong phạm vi trách nhiệm của mình, Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
|
| Trường Chinh (Đã ký) |