Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 4 tháng 4 năm 1989, quy định về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan điều tra hình sự và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tại Việt Nam.

Pháp lệnh áp dụng đối với các cơ quan điều tra thuộc Lực lượng Cảnh sát nhân dân, Lực lượng An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bao gồm Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm; cùng các điều tra viên, cán bộ điều tra, cơ quan, tổ chức và công dân có liên quan trong hoạt động tố tụng hình sự.

Hệ thống tổ chức các cơ quan điều tra và nguyên tắc hoạt động

  • Các cơ quan điều tra theo Bộ luật tố tụng hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân; Cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân; Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
  • Ngoài ra, một số cơ quan khác thuộc Cảnh sát nhân dân, An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân, Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu khi phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội.
  • Nguyên tắc hoạt động yêu cầu tôn trọng sự thật, khách quan, toàn diện và đầy đủ; làm rõ cả chứng cứ xác định có tội và vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật và chịu sự chỉ đạo của cơ quan điều tra cấp trên.

Trách nhiệm phối hợp và kiểm sát hoạt động điều tra

  • Các cơ quan, tổ chức và công dân có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên và cán bộ điều tra, đồng thời phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện.
  • Viện kiểm sát nhân dân thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, kịp thời phát hiện vi phạm và đề ra biện pháp khắc phục. Các cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra phải thực hiện nghiêm túc các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát.
  • Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và công dân có quyền, nghĩa vụ tham gia hỗ trợ điều tra, đồng thời có quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra.

Thẩm quyền và nhiệm vụ của cơ quan điều tra Lực lượng Cảnh sát nhân dân

  • Thẩm quyền: Điều tra các tội phạm quy định từ Chương II đến Chương X của Phần "Các tội phạm" trong Bộ luật Hình sự, trừ các tội thuộc thẩm quyền của An ninh nhân dân, Quân đội nhân dân hoặc Viện kiểm sát nhân dân. Đối với một số tội danh cụ thể (Điều 94, 95, 96, 97), Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định phân công giữa Cảnh sát và An ninh.
  • Phân cấp thực hiện: Cục điều tra cấp trung ương trực tiếp điều tra khi xét thấy cần thiết; Phòng điều tra cấp tỉnh điều tra các tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc rút hồ sơ từ cấp dưới; Đội điều tra cấp huyện điều tra các tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện.
  • Các cơ quan cảnh sát khác (Cục/Phòng đấu tranh chống tội phạm kinh tế, trật tự xã hội, Ban giám thị trại giam/tạm giam): Khi phát hiện dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án, lấy lời khai, khám xét, tạm giữ khẩn cấp và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách trong thời hạn 6 ngày.

Thẩm quyền và nhiệm vụ của cơ quan điều tra Lực lượng An ninh nhân dân

  • Thẩm quyền: Điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Chương I và XII Bộ luật Hình sự), trừ thẩm quyền của Quân đội nhân dân; điều tra các tội phạm do cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân thực hiện.
  • Phân cấp thực hiện: Cục điều tra An ninh nhân dân trực tiếp điều tra khi cần thiết; Phòng điều tra cấp tỉnh điều tra các tội thuộc thẩm quyền (trừ Chương XII và các vụ do Cục trực tiếp thụ lý).
  • Các cơ quan an ninh khác (Cục/Phòng nghiệp vụ trực tiếp đấu tranh chống tội phạm an ninh quốc gia): Được khởi tố vụ án, thực hiện các biện pháp điều tra ban đầu, tạm giữ và chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chuyên trách trong vòng 6 ngày. Đội an ninh cấp huyện tiến hành truy bắt, lấy lời khai, bảo quản vật chứng và báo ngay cho Phòng điều tra cấp tỉnh.

Thẩm quyền và nhiệm vụ của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân

  • Cơ cấu tổ chức: Gồm Cục điều tra hình sự (Bộ Quốc phòng), Phòng điều tra hình sự (Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng...), Ban điều tra hình sự (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh...); Cục an ninh quân đội (Bộ Quốc phòng) và các Phòng an ninh quân đội cấp dưới.
  • Thẩm quyền điều tra hình sự: Điều tra các tội phạm từ Chương II đến Chương XII Bộ luật Hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự (trừ các vụ thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát quân sự, An ninh quân đội hoặc An ninh nhân dân).
  • Thẩm quyền an ninh quân đội: Cục và Phòng An ninh quân đội điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh và một số tội danh đặc thù (Điều 256, 257, 262, 263, 269 Bộ luật Hình sự) thuộc thẩm quyền Tòa án quân sự.
  • Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp Trung đoàn, Lữ đoàn: Khi phát hiện tội phạm xảy ra trong khu vực đóng quân có quyền lập biên bản, lấy lời khai, bắt khẩn cấp, khám xét và chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Thẩm quyền của cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân

  • Cơ cấu tổ chức: Cục điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương và Ban điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự cấp dưới.
  • Thẩm quyền thụ lý: Điều tra khi Viện trưởng xét thấy cần thiết trong các trường hợp: phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động điều tra; phát hiện tội phạm rõ ràng qua công tác kiểm sát mà không cần chuyển cơ quan khác; phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp.

Quy định về phối hợp, ủy thác và giải quyết tranh chấp thẩm quyền

  • Quan hệ phối hợp: Các cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra phối hợp chặt chẽ. Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn của cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra phải gửi ngay cho Viện kiểm sát và thông báo cho cơ quan điều tra cùng cấp.
  • Ủy thác điều tra: Cơ quan điều tra có thể ủy thác bằng văn bản cho cơ quan điều tra khác thực hiện một số hoạt động điều tra cụ thể.
  • Giải quyết tranh chấp: Tranh chấp giữa các ngành do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết; tranh chấp cùng ngành do Thủ trưởng quản lý cấp đó quyết định.

Tiêu chuẩn và quyền hạn của Thủ trưởng, Điều tra viên và Cán bộ điều tra

  • Thủ trưởng cơ quan điều tra: Chịu trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra; có quyền khởi tố vụ án, bị can, áp dụng/thay đổi biện pháp ngăn chặn, đình chỉ điều tra. Tiêu chuẩn bổ nhiệm yêu cầu phẩm chất đạo đức tốt, trình độ đại học chuyên ngành (an ninh, cảnh sát, pháp lý) và kinh nghiệm thực tiễn.
  • Điều tra viên: Được phân công điều tra vụ án và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Có quyền kiến nghị Thủ trưởng quyết định các biện pháp thuộc thẩm quyền; có quyền khiếu nại lên cấp trên nếu không nhất trí với Thủ trưởng. Được ưu tiên sử dụng phương tiện giao thông công cộng và trưng dụng phương tiện trong trường hợp cấp bách. Điều tra viên được chia làm 3 bậc: Cao cấp, trung cấp và sơ cấp với các tiêu chuẩn trình độ tương ứng.
  • Cán bộ điều tra của các cơ quan khác: Phải có phẩm chất tốt, kinh nghiệm và trình độ từ trung học chuyên ngành trở lên.

Hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm

  • Bộ đội biên phòng: Điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sự tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng biển quản lý. Đối với tội ít nghiêm trọng, quả tang: khởi tố, điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát trong 15 ngày. Đối với tội nghiêm trọng, phức tạp: khởi tố, thực hiện biện pháp khẩn cấp và chuyển cơ quan điều tra trong 7 ngày.
  • Hải quan: Điều tra tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 97 Bộ luật Hình sự). Phân loại xử lý tương tự Bộ đội biên phòng (15 ngày đối với tội ít nghiêm trọng chuyển Viện kiểm sát; 7 ngày đối với tội nghiêm trọng chuyển cơ quan điều tra).
  • Kiểm lâm: Điều tra các tội phạm về lâm nghiệp (Điều 181, 194, 216 Bộ luật Hình sự). Thời hạn và thẩm quyền xử lý tương tự như Bộ đội biên phòng và Hải quan (15 ngày đối với tội ít nghiêm trọng; 7 ngày đối với tội nghiêm trọng).
  • Tranh chấp thẩm quyền giữa ba lực lượng này do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp nơi xảy ra vụ án quyết định.

Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 1989. Hội đồng bộ trưởng và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Pháp lệnh này.

HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 17-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 04 tháng 4 năm 1989

 

PHÁP LỆNH

TỔ CHỨC ĐIỀU TRA HÌNH SỰ SỐ 17-LCT/HĐNN8 CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC

Căn cứ vào Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ vào các điều 92, 93 và 94 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Pháp lệnh này quy định tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra hình sự, của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động điều tra hình sự của Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1: Tổ chức cơ quan điều tra.

1- Các cơ quan điều tra theo Bộ luật tố tụng hình sự gồm có:

a) Cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân;

b) Cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân;

c) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;

d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.

2- Ngoài các cơ quan điều tra quy định tại khoản 1 Điều này, trong Lực lượng Cảnh sát nhân dân, Lực lượng An ninh nhân dân và trong Quân đội nhân dân còn có các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Pháp lệnh này.

Điều 2: Nhiệm vụ của cơ quan điều tra.

1- Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

2- Các cơ quan được quy định tại khoản 2 Điều 1 của Pháp lệnh này, trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội thì tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kịp thời phát hiện tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Điều 3: Nguyên tắc hoạt động điều tra.

Hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm của bị can nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Mọi hoạt động điều tra phải tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự chỉ đạo của cơ quan điều tra cấp trên.

Điều 4: Hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm.

Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm tiến hành điều tra theo quy định của Điều 93 Bộ luật tố tụng hình sự và các quy định tại Chương V Pháp lệnh này.

Điều 5: Trách nhiệm chấp hành các quyết định và yêu cầu của người tiến hành điều tra.

Các cơ quan, tổ chức hữu quan và công dân phải chấp hành những quyết định, yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan điều tra, của điều tra viên, của Thủ trưởng và những cán bộ được phân công làm nhiệm vụ điều tra của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, Thủ trưởng cơ quan Hải quan, Thủ trưởng cơ quan Kiểm lâm và những cán bộ được giao nhiệm vụ điều tra của các cơ quan này trong khi tiến hành điều tra.

Các cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện các quyết định, yêu cầu đó.

Điều 6: Kiểm sát hoạt động điều tra.

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, của đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm phải tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh này.

Viện kiểm sát phải phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra và đề ra những biện pháp khắc phục.

Cơ quan điều tra các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm phải thực hiện những yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát.

Điều 7: Việc tham gia của các tổ chức xã hội và của công dân trong hoạt động điều tra.

1- Mặt trận Tổ quốc, các thành viên của Mặt trận và công dân đều có quyền và nghĩa vụ tham gia các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

2- Trong hoạt động điều tra, cơ quan điều tra, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm phải dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, có trách nhiệm phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức xã hội và công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

3- Khi phát hiện những hành vi trái pháp luật trong hoạt động điều tra, các tổ chức xã hội và công dân có quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo với Viện kiểm sát nhân dân, với các cơ quan có thẩm quyền. Các cơ quan này có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời.

Chương 2:

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA

Mục A: CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ CÁC CƠ QUAN KHÁC CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN ĐƯỢC GIAO NHIỆM VỤ TIẾN HÀNH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA.

Điều 8: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, điều tra tất cả các tội phạm quy định tại các chương từ Chương II đến Chương X Phần "Các tội phạm" của Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân, cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và những trường hợp do cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tiến hành điều tra. Đối với các tội phạm quy định các điều 94, 95, 96 và 97 của Bộ luật Hình sự, việc phân công trách nhiệm điều tra giữa các cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và Lực lượng An ninh nhân dân do Bộ trưởng Bộ nội vụ quyết định.

Điều 9: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân.

Cục điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân điều tra các tội phạm quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này, khi thấy cần trực tiếp điều tra.

Phòng điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp tỉnh điều tra các tội phạm quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh và các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra cấp dưới, nhưng xét thấy cần trực tiếp tiến hành điều tra.

Đội điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp huyện điều tra các tội phạm quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện.

Điều 10: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Các cục Cảnh sát trực tiếp đấu tranh chống tội phạm kinh tế và các tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; các phòng Cảnh sát trực tiếp đấu tranh chống tội phạm kinh tế và các tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, ban giám thị trại tạm giam ở cấp tỉnh và trại giam, trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội quy định tại Điều 8 của Pháp lệnh này đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, lấy lời khai, khám xét, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khi xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn, tiêu huỷ chứng cứ hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền; trong thời hạn 6 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát nhân dân.

Mục B: CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ CÁC CƠ QUAN KHÁC CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN ĐƯỢC GIAO NHIỆM VỤ TIẾN HÀNH MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA.

Điều 11: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Cơ quan điều tra và các cơ quan khác của Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền điều tra:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hoà bình chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương I và Chương XII Phần "Các tội phạm" của Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân. Đối với những tội phạm quy định tại các điều 94, 95, 96 và 97 của Bộ luật Hình sự thì việc phân công trách nhiệm điều tra giữa các cơ quan điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và Lực lượng An ninh nhân dân do Bộ trưởng Bộ nội vụ quyết định.

b) Các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân.

Điều 12: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân.

Cục điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân điều tra các tội phạm quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này, khi thấy cần trực tiếp điều tra.

Phòng điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân cấp tỉnh điều tra các tội phạm quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này, trừ những tội phạm quy định tại Chương XII Phần "Các tội phạm" của Bộ luật Hình sự và những tội phạm do Cục điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân trực tiếp điều tra.

Điều 13: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong Lực lượng An ninh nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Các cục của Lực lượng An ninh nhân dân và các phòng của Lực lượng An ninh nhân dân cấp tỉnh trực tiếp đấu tranh chống các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh này đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; lấy lời khai, khám xét, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khi xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn, tiêu huỷ chứng cứ hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ qua có thẩm quyền; trong thời hạn 6 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền của Lực lượng An ninh nhân dân.

Đội an ninh ở cấp huyện trong khi làm niệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội xâm phạm an ninh quốc gia thì tiến hành ngay việc truy bắt người có hành vi phạm tội chạy trốn; lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, và báo ngay cho Phòng điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân cấp tỉnh.

Mục C: CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN.

Điều 14: Tổ chức cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.

Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân gồm có:

Cục điều tra hình sự ở Bộ quốc phòng, Phòng điều tra hình sự ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương, Ban điều tra hình sự ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và cấp tương đương; Cục an ninh quân đội ở Bộ quốc phòng và Phòng an ninh quân đội ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương.

Điều 15: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.

Các cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân căn cứ vào thẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự, tiến hành điều tra các tội phạm quy định tại các chương từ Chương II đến Chương XII Phần "Các tội phạm" của Bộ luật Hình sự, trừ những trường hợp do cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự, Cục An ninh quân đội, Phòng an ninh quân đội và cơ quan điều tra của Lực lượng An ninh nhân dân điều tra.

Cục An ninh quân đội và các Phòng An ninh quân đội căn cứ vào thẩm quyền xét xử của các Toà án quân sự, tiến hành điều tra các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương I, Chương XII và các tội phạm quy định tại các điều 256, 257, 262, 263 và 269 của Bộ luật Hình sự, trừ các tội phạm mà người thực hiện là cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân.

Điều 16: Nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Khi phát hiện những hành vi phạm tội quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này, xảy ra trong khu vực đóng quân của đơn vị, thì Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp Trung đoàn, Lữ đoàn có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra: lập biên bản phạm tội quả tang, lấy lời khai, thu giữ bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, trong những trường hợp quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố tụng hình sự thì có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp, khám xét; chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Mục D: CƠ QUAN ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Điều 17: Tổ chức cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự.

Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Cục điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Phòng điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương và Ban điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng và cấp tương đương.

Điều 18: Thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.

1- Cục điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Phòng điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân xét thấy cần thiết:

a) Khi phát hiện trong hoạt động điều tra có những hành vi phạm pháp luật nghiêm trọng;

b) Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng mà xét thấy không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra khác;

c) Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp.

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho cơ quan điều tra của Viện kiểm sát điều tra trong những trường hợp khác.

2- Phòng điều tra của Viện kiểm sát quân sự trung ương, Ban điều tra của Viện kiểm sát quân sự ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng và cấp tương đương điều tra những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, nếu vụ án đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự.

Chương 3:

QUAN HỆ PHÂN CÔNG VÀ PHỐI HỢP TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA

Điều 19: Quan hệ giữa cơ quan điều tra và các cơ quan khác trong hoạt động điều tra.

Quan hệ giữa cơ quan điều tra với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là quan hệ phân công và phối hợp nhằm phát hiện kịp thời tội phạm và người phạm tội.

Các yêu cầu bằng văn bản của cơ quan điều tra phải được các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nghiêm chỉnh thực hiện.

Các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, sau khi khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo thẩm quyền phải gửi ngay các quyết định đó cho Viện kiểm sát và thông báo cho cơ quan điều tra cùng cấp biết.

Đối với sự việc có dấu hiệu phạm tội mà chưa rõ thẩm quyền điều tra thì cơ quan điều tra nào phát hiện trước phải tiến hành ngay các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và của Pháp lệnh này; khi đã xác định thẩm quyền thì chuyển giao ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Các đơn vị Cảnh sát nhân dân, đơn vị Kiểm soát quân sự có trách nhiệm hỗ trợ và thực hiện các yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan điều tra, của điều tra viện và của Thủ trưởng các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Điều 20: Uỷ thác điều tra.

Khi cần thiết, cơ quan điều tra có thể uỷ thác cho cơ quan điều tra khác thực hiện một số hoạt động điều tra. Cơ quan điều tra được uỷ thác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ việc uỷ thác.

Trong trường hợp cơ quan điều tra được uỷ thác không thể thực hiện được từng phần hoặc toàn bộ việc uỷ thác thì phải báo ngay bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan điều tra đã uỷ thác biết.

Điều 21: Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan điều tra thuộc các ngành khác nhau thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm giải quyết. Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan điều tra cùng ngành ở cấp nào thì Thủ trưởng quản lý cấp đó giải quyết.

Chương 4:

THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN ĐIỀU TRA VÀ ĐIỀU TRA VIÊN

Điều 22: Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng và Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra.

Thủ trưởng cơ quan điều tra là người chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức và chỉ đạo mọi hoạt động điều tra của cơ quan điều tra; có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, truy nã bị can, khám xét, thay đổi điều tra viên theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; trực tiếp tiến hành điều tra; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra. Khi cần thiết, Thủ trưởng cơ quan điều tra có thể uỷ nhiệm cho Phó thủ trưởng thực hiện các quyền hạn của mình.

Phó thủ trưởng cơ quan điều tra có những quyền hạn quy định tại các điều 58, 62, 63, 68, 70, 116 và 121 của Bộ luật tố tụng hình sự.

ở cấp huyện, Trưởng công an làm nhiệm vụ Thủ trưởng Đội điều tra, Phó trưởng công an phụ trách công tác điều tra là Phó thủ trưởng Đội điều tra của Lực lượng Cảnh sát nhân dân.

Điều 23: Bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra.

Người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có trình độ đại học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương, có nghiệp vụ điều tra, có kinh nghiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra có thể được bổ nhiệm làm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra.

Việc bổ nhiệm và cấp giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ở cấp trung ương trong mỗi ngành do Thủ trưởng ngành quyết định.

Việc bổ nhiệm và cấp giấy chứng nhận Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp ở địa phương của mỗi ngành do Thủ trưởng ngành quyết định, theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp.

Điều 24: Nhiệm vụ, quyền hạn của điều tra viên.

Khi được phân công điều tra một phần hoặc toàn bộ vụ án, điều tra viên có quyền tiến hành các biện pháp điều tra do Bộ luật tố tụng hình sự quy định và phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra của mình.

Đối với những biện pháp điều tra thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan điều tra thì điều tra viên có quyền kiến nghị với Thủ trưởng cơ quan điều tra quyết định. Trong trường hợp không nhất trí với quyết định của Thủ trưởng cơ quan điều tra thì điều tra viên vẫn phải chấp hành quyết định đó, nhưng có quyền khiếu nại lên Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên. Trong thời hạn 10 ngày, Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên phải trả lời khiếu nại của điều tra viên.

Trong khi tiến hành hoạt động điều tra, điều tra viên được ưu tiên mua vé đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng, được miễn cước phí giao thông trong thành phố, thị xã. Trong trường hợp cấp thiết, để ngăn chặn hành động phạm tội, đuổi bắt người phạm tội, cấp cứu người bị nạn, điều tra viên được sử dụng các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và tư nhân, kể cả những người điều khiển phương tiện ấy, trừ các phương tiện của cơ quan ngoại giao và phải hoàn trả ngay khi tình huống cấp thiết không còn. Nếu các phương tiện bị hư hỏng hoặc bị mất thì cơ quan điều tra hữu quan có trách nhiệm bồi thường.

Điều 25: Bổ nhiệm điều tra viên.

Người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có kiến thức pháp luật cần thiết và có khả năng thực hiện nhiệm vụ điều tra có thể được bổ nhiệm làm điều tra viên.

Điều tra viên có 3 bậc: Cao cấp, trung cấp và sơ cấp.

Điều tra viên cao cấp phải có trình độ đại học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương, có trình độ nghiên cứu tổng hợp, đề xuất biện pháp phòng và chống tội phạm, có kinh nghiệm điều tra các vụ án thuộc loại tội nghiêm trọng, phức tạp, có năng lực chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động điều tra.

Điều tra viên trung cấp phải có trình độ đại học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương, có kinh nghiệm điều tra các vụ án thuộc loại tội nghiêm trọng, phức tạp, có khả năng hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động điều tra.

Điều tra viên sơ cấp phải có trình độ trung học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương và có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng.

Việc bổ nhiệm và cấp giấy chứng nhận điều tra viên do Thủ trưởng cơ quan quản lý từ cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên quyết định theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan điều tra cùng cấp.

Cấp ra quyết định bổ nhiệm có quyền miễn nhiệm điều tra viên.

Điều 26: Thủ trưởng và cán bộ của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Thủ trưởng, Phó thủ trưởng và cán bộ của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có kinh nghiệm điều tra, có kiến thức từ trung học an ninh, cảnh sát, pháp lý hoặc tương đương trở lên.

Thủ trưởng, Phó thủ trưởng các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền tiến hành những biện pháp điều tra quy định tại Điều 10Điều 13 của Pháp lệnh này và phải tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh này; phân công và chỉ đạo cán bộ dưới quyền thực hiện một số hoạt động điều tra.

Cán bộ được phân công điều tra phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình.

CHƯƠNG V

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG, HẢI QUAN VÀ KIỂM LÂM TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA

Điều 27: Nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị Bộ đội biên phòng trong hoạt động điều tra.

1- Các đơn vị Bộ đội biên phòng trong khi làm nhiệm của mình mà phát hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Chương I Phần "Các tội phạm" và tội phạm quy định tại Điều 179 của Bộ luật Hình sự xảy ra trong khu vực biên giới, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do Bộ đội biên phòng quản lý, có quyền:

a) Đối với hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, ít nghiêm trọng thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành khám xét, xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ người đó; lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; khi cần thiết, trưng cầu giám định, khởi tố bị can; hoàn thành và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

b) Đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng, phức tạp thì tiến hành khám nghiệm hiện trường, ra quyết định khởi tố vụ án, bắt khẩn cấp, khám xét, ra lệnh tạm giữ người trong những trường hợp quy định tại Điều 63 của Bộ luật tố tụng hình sự; lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

2- Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, Chỉ huy trưởng, Phó chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh, Trưởng đồn, Phó trưởng đồn có quyền áp dụng các biện pháp điều tra quy định tại khoản 1 Điều này, trực tiếp điều tra hoặc phân công cán bộ điều tra và phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình.

Những cán bộ được phân công tiến hành điều tra phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra mà mình đã thực hiện.

Điều 28: Nhiệm vụ, quyền hạn của Hải quan trong hoạt động điều tra.

1- Cơ quan Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện hành vi phạm tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật Hình sự, có quyền:

a) Đối với hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, ít nghiêm trọng thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền; khám xét người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan do Hội đồng bộ trưởng quy định; khi cần thiết, trưng cầu giám định, khởi tố bị can; hoàn thành và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

b) Đối với hành vi thuộc loại tội nghiêm trọng, phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, khi xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay người có hành vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền; khám xét người, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát của Hải quan do Hội đồng bộ trưởng quy định; chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

2- Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục kiểm soát, Cục giám quản của Tổng cục Hải quan, Giám đốc, Phó giám đốc Hải quan cấp tỉnh, trưởng Hải quan cửa khẩu được Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan chỉ định, có quyền áp dụng các biện pháp điều tra quy định tại khoản 1 Điều này, trực tiếp điều tra hoặc phân công cán bộ điều tra và phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra của mình.

Những cán bộ được phân công làm nhiệm vụ điều tra phải chịu trách nhiệm về hoạt động điều tra mà mình đã thực hiện.

Điều 29: Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Kiểm lâm trong hoạt động điều tra.

1- Cơ quan Kiểm lâm khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện hành vi phạm tội quy định tại các điều 181, 194, và 216 của Bộ luật Hình sự đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, có quyền:

a) Đối với những hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, ít nghiêm trọng thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, ra quyết định khởi tố bị can, hoàn thành và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

b) Đối với hành vi thuộc loại tội nghiêm trọng, phức tạp thì khởi tố vụ án, lấy lời khai, thu giữ, bảo quản vật chứng và tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án; chuyển hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

2- Cục trưởng, Phó cục trưởng Cục Kiểm lâm, Chi cục trưởng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cấp tỉnh, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm có quyền áp dụng các biện pháp điều tra quy định tại khoản 1 Điều này; trực tiếp điều tra hoặc phân công cán bộ điều tra và phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra của mình.

Những cán bộ được phân công tiến hành điều tra phải chịu trách nhiệm về các hoạt động điều tra mà mình đã thực hiện.

Điều 30: Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, nơi xảy ra vụ án, quyết định.

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan điều tra có thẩm quyền có quyền yêu cầu đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm chuyển giao ngay hồ sơ vụ án để trực tiếp điều tra. Các yêu cầu của cơ quan điều tra có giá trị bắt buộc thi hành đối với đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm.

Chương 6:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 31

Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 6 năm 1989.

Điều 32

Hội đồng bộ trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức thi hành Pháp lệnh này.

Hà Nội, ngày 4 tháng 4 năm 1989

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

Văn bản liên quan hiệu lực
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành

Số hiệu: 17-LCT/HĐNN8
Loại văn bản: Pháp lệnh
Ngày ban hành: 04/04/1989
Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
Người ký: Võ Chí Công
Ngày công báo: 31/08/1989
Số công báo: Số 16
Ngày hiệu lực: 01/06/1989
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Trách nhiệm hình sự, Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 d...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký