Pháp lệnh tổ chức Toà án nhân dân tối cao và tổ chức Toà án nhân dân địa phương năm 1961 được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 3 năm 1961 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố, quy định chi tiết về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và nhân sự của hệ thống Toà án nhân dân tối cao cùng các Toà án nhân dân địa phương các cấp nhằm bảo đảm thực thi công lý và xây dựng hệ thống tư pháp vững mạnh.
Phạm vi áp dụng của Pháp lệnh bao gồm toàn bộ hệ thống tòa án nhân dân tại Việt Nam, từ cấp tối cao đến cấp địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Đối tượng áp dụng trực tiếp là các chức danh tư pháp bao gồm Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, các đơn vị chuyên trách thuộc tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động xét xử.
Cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao
Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhằm bảo đảm thực thi pháp luật thống nhất:
- Thành phần nhân sự: Gồm Chánh án, một hoặc nhiều Phó chánh án, các thẩm phán và thẩm phán dự khuyết.
- Các bộ phận cấu thành: Ủy ban thẩm phán, các Tòa chuyên trách (Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa quân sự), Tòa phúc thẩm và Hội đồng toàn thể thẩm phán.
- Nhiệm vụ của Ủy ban thẩm phán: Gồm từ 9 đến 11 ủy viên, họp ít nhất mỗi tháng hai lần và quyết định theo đa số. Ủy ban có nhiệm vụ xét xử các vụ án quan trọng, phức tạp; xét các kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của các Tòa chuyên trách và Tòa phúc thẩm; hướng dẫn các Tòa án áp dụng pháp luật và đường lối xét xử; bố trí thẩm phán; thảo luận các dự án luật, pháp lệnh và tổng kết kinh nghiệm xét xử.
- Thẩm quyền của các Tòa hình sự và Tòa dân sự: Sơ thẩm đồng thời là chung thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật hoặc những vụ án thuộc cấp dưới nhưng Tòa án nhân dân tối cao lấy lên để xử; phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu tự trị bị chống án hoặc kháng nghị; xử lại các vụ án đã có hiệu lực pháp luật nhưng được Ủy ban thẩm phán giao hoặc do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị.
- Thẩm quyền của Tòa phúc thẩm: Phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bị chống án hoặc kháng nghị; xử lại các vụ án đã có hiệu lực pháp luật do Ủy ban thẩm phán giao.
- Nhiệm vụ của Hội đồng toàn thể thẩm phán: Duyệt lại các bản án tử hình của Tòa án nhân dân các cấp theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Chánh án và các Chánh toà thuộc Toà án nhân dân tối cao
Pháp lệnh phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu hệ thống tòa án tối cao và các tòa chuyên trách:
- Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Báo cáo công tác trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội; chủ tọa các phiên họp của Ủy ban thẩm phán và Hội đồng toàn thể thẩm phán; chủ tọa phiên tòa của các Tòa chuyên trách và Tòa phúc thẩm khi cần thiết; kháng nghị các bản án, quyết định có sai lầm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp; tổ chức thống kê tư pháp toàn quốc và tổng kết kinh nghiệm; đôn đốc thi hành nghị quyết và chương trình công tác; kiểm tra tòa án địa phương; chỉ định thẩm phán xét xử khi thiếu nhân sự; chỉ đạo nghiên cứu pháp luật, đào tạo cán bộ và tuyên truyền pháp luật; bổ nhiệm, bãi miễn các chức vụ quản lý hành chính trong tòa án tối cao (Chánh văn phòng, Vụ trưởng...). Các Phó chánh án có nhiệm vụ giúp việc và thay mặt Chánh án khi vắng mặt.
- Chánh tòa các Tòa chuyên trách và Tòa phúc thẩm: Điều khiển công tác của Tòa; chỉ định thẩm phán và chủ tọa phiên tòa; báo cáo công tác lên Ủy ban thẩm phán.
- Bộ máy làm việc và biên chế: Do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Tổ chức và thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Đối với cấp tỉnh và đơn vị hành chính tương đương, cơ cấu và thẩm quyền được quy định cụ thể:
- Thẩm quyền xét xử: Sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự không thuộc thẩm quyền cấp huyện hoặc các vụ án cấp huyện nhưng có tính chất quan trọng, phức tạp được lấy lên để xử; phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của cấp huyện bị chống án hoặc kháng nghị; xử lại các vụ án đã có hiệu lực pháp luật do Tòa án nhân dân tối cao giao.
- Nhiệm vụ khác: Xây dựng tổ chức tư pháp địa phương, huấn luyện thư ký tòa án và cán bộ tư pháp cấp xã, tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật.
- Ủy ban thẩm phán cấp tỉnh: Gồm từ 3 đến 5 ủy viên, họp ít nhất mỗi tháng hai lần và quyết định theo đa số. Ủy ban có nhiệm vụ xét các vụ án phức tạp; phát hiện sai lầm trong bản án đã có hiệu lực để báo cáo lên Tòa án nhân dân tối cao; hướng dẫn cấp dưới áp dụng pháp luật; phân công thẩm phán và tổng kết kinh nghiệm.
- Chánh án cấp tỉnh: Báo cáo công tác trước Hội đồng toàn thể thẩm phán; chủ tọa Ủy ban thẩm phán; chỉ định thẩm phán, lập danh sách hội thẩm nhân dân; tổ chức thống kê, kiểm tra tòa án cấp dưới và chỉ đạo công tác tư pháp địa phương.
Tổ chức và thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Tòa án cấp cơ sở đóng vai trò giải quyết trực tiếp các tranh chấp và vi phạm nhỏ tại địa phương:
- Thẩm quyền: Hòa giải các tranh chấp dân sự; phân xử các việc hình sự nhỏ không phải mở phiên tòa; sơ thẩm các vụ án dân sự; sơ thẩm các vụ án hình sự có mức phạt từ hai năm tù trở xuống.
- Nhiệm vụ phối hợp: Hướng dẫn công tác hòa giải, xây dựng tổ chức tư pháp tại các xã, thị trấn và tuyên truyền pháp luật trong nhân dân.
- Chánh án cấp huyện: Báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; lập danh sách hội thẩm nhân dân; báo cáo lên cấp tỉnh các bản án có hiệu lực nhưng phát hiện sai lầm; phân công thẩm phán và hướng dẫn, kiểm tra công tác tư pháp cấp xã.
Chế độ bầu cử, bổ nhiệm và số lượng nhân sự của Toà án nhân dân địa phương
Pháp lệnh quy định nguyên tắc dân chủ trong việc hình thành đội ngũ thẩm phán và ủy viên tại địa phương:
- Cơ chế bầu cử: Chánh án, Phó chánh án, thẩm phán và các ủy viên Ủy ban thẩm phán của Tòa án nhân dân địa phương các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn. Những người này có thể là đại biểu hoặc không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Số lượng thẩm phán cấp tỉnh: Từ 4 đến 7 người (bao gồm cả Chánh án và Phó chánh án).
- Số lượng thẩm phán cấp huyện: Không quá 3 người (bao gồm cả Chánh án và Phó chánh án).
- Biên chế và bộ máy: Tổng số biên chế của tòa án địa phương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Chế định Hội thẩm nhân dân
Hội thẩm nhân dân thể hiện tính nhân dân trong hoạt động xét xử của tòa án:
- Phương thức hình thành: Tại Tòa án nhân dân tối cao, hội thẩm nhân dân do Ủy ban thường vụ Quốc hội cử dựa trên sự giới thiệu của các đoàn thể nhân dân ở trung ương. Tại địa phương, hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và bãi miễn với nhiệm kỳ là 2 năm.
- Số lượng và ứng cử: Số lượng hội thẩm do Chánh án cùng cấp đề nghị Hội đồng nhân dân quyết định dựa trên hướng dẫn của Tòa án tối cao. Danh sách ứng cử do các đoàn thể nhân dân cùng cấp giới thiệu.
- Trách nhiệm và quyền lợi: Hội thẩm nhân dân phải tham gia xét xử đúng lịch. Các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho hội thẩm làm nhiệm vụ. Trong thời gian làm nhiệm vụ, hội thẩm hưởng nguyên lương (nếu là người ăn lương nhà nước) hoặc hưởng phụ cấp do Nhà nước đài thọ (nếu không ăn lương nhà nước).
Quy định đặc thù đối với khu tự trị và tòa án quân sự
- Khu tự trị: Tổ chức cụ thể của các Tòa án nhân dân địa phương tại các khu tự trị do Hội đồng nhân dân khu tự trị quy định dựa trên Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Pháp lệnh này, sau đó trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
- Tòa án quân sự: Tổ chức của các Tòa án quân sự không áp dụng trực tiếp theo pháp lệnh này mà sẽ có quy định riêng biệt.
Pháp lệnh tổ chức Toà án nhân dân tối cao và tổ chức Toà án nhân dân địa phương năm 1961 có hiệu lực kể từ ngày được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua (ngày 23 tháng 3 năm 1961).
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 18/LCT | Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 1961 |
PHÁP LỆNH
QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ TỔ CHỨC CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VÀ TỔ CHỨC CỦA CÁC TOÀ ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
Căn cứ vào Điều 98 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 14 tháng 7 năm 1960;
Để kiện toàn Toà án nhân dân các cấp, tăng cường tính chất nhân dân của tổ chức Toà án nhân dân và bảo đảm cho việc xét xử được chính xác và đúng pháp luật;
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhân dân địa phương.
TỔ CHỨC CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Toà án nhân dân tối cao có những tổ chức sau đây:
- Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
- Các Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao;
- Các Toà hình sự, Toà dân sự và Toà quân sự;
- Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao;
- Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Điều 2: Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (1) có nhiệm vụ:
a) Xét những vụ án quan trọng hoặc phức tạp;
b) Xét các kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với những bản án hoặc những quyết định của các Toà chuyên trách và Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao;
c) Hướng dẫn các Toà án áp dụng pháp luật và đường lối, chính sách xét xử;
d) Quyết định việc bố trí các thẩm phán trong các Toà của Toà án nhân dân tối cao;
đ) Thảo luận những dự án luật, dự án pháp lệnh mà Toà án nhân dân tối cao sẽ trình Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội; thảo luận những vấn đề pháp luật cần đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội giải thích;
e) Tổng kết kinh nghiệm xét xử.
Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có từ chín đến mười một uỷ viên.
Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao họp ít nhất mỗi tháng hai lần và quyết định theo đa số.
Điều 3: Các Toà hình sự và Toà dân sự của Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền:
a) Sơ thẩm đồng thời là chung thẩm những vụ án do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp dưới nhưng Toà án nhân dân tối cao xét thấy cần lấy lên để xử;
b) Phúc thẩm những bản án hoặc những quyết định sơ thẩm của các Toà án nhân dân khu tự trị bị chống án hoặc bị kháng nghị;
c) Xử lại những vụ án do Toà mình hoặc Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giao cho xử lại;
Xử lại những vụ án do Toà án nhân dân cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Chánh án Toà án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị.
Điều 4: Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền:
a) Phúc thẩm những bản án hoặc những quyết định sơ thẩm của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương bị chống án hoặc bị kháng nghị;
b) Xử lại những vụ án do Toà mình đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao giao cho xử lại.
Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ duyệt lại những bản án tử hình của Toà án nhân dân các cấp, căn cứ vào Điều 9 của Luật tổ chức Toà án nhân dân.
Điều 6: Chánh án Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ:
a) Báo cáo công tác của Toà án nhân dân tối cao trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
b) Chủ toạ các phiên họp của Uỷ ban thẩm phán và Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Chủ toạ phiên toà của các Toà chuyên trách và Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao, nếu xét thấy cần thiết;
c) Kháng nghị những bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân các cấp, nhưng phát hiện có sai lầm;
d) Tổ chức thống kê tư pháp toàn quốc;
đ) Tổ chức việc tổng kết và phổ biến kinh nghiệm xét xử;
e) Đôn đốc việc thi hành các nghị quyết của Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Đôn đốc việc thực hiện chương trình công tác toàn ngành;
g) Điều hoà công việc giữa các Toà, các Vụ và các bộ phận khác của Toà án nhân dân tối cao;
h) Tổ chức việc kiểm tra công tác của các Toà án nhân dân địa phương;
i) Chỉ định các thẩm phán xét xử tại các phiên toà của các Toà chuyên trách hoặc Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao trong trường hợp các Toà này thiếu thẩm phán để mở phiên toà;
k) Chỉ đạo công tác nghiên cứu pháp luật và nghiên cứu đường lối, chính sách xét xử;
Chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức tư pháp, công tác đào tạo và giáo dục cán bộ toà án và công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân;
l) Bổ nhiệm và bãi miễn Chánh văn phòng, Phó văn phòng, Vụ trưởng, Phó vụ trưởng và những chức vụ tương đương trong tổ chức của Toà án nhân dân tối cao.
Các Phó chánh án Toà án nhân dân tối cao giúp Chánh án làm nhiệm vụ và có thể được uỷ nhiệm thay Chánh án khi Chánh án vắng mặt.
Các Toà chuyên trách và Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh toà, Phó chánh toà và các thẩm phán.
Các Chánh toà của các Toà chuyên trách và Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ:
a) Điều khiển công tác của Toà;
b) Chỉ định các thẩm phán cho các phiên toà; chủ toạ phiên toà hoặc chỉ định một thẩm phán chủ toạ phiên toà;
c) Báo cáo công tác của Toà với Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Phó chánh toà giúp Chánh toà làm nhiệm vụ và có thể được uỷ nhiệm thay Chánh toà khi Chánh toà vắng mặt.
Tổ Chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế của Toà án nhân dân tối cao do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
TỔ CHỨC CỦA CÁC TOÀ ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền:
a) Sơ thẩm những vụ án hình sự không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương và những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của các Toà án đó, nhưng xét thấy quan trọng hoặc phức tạp, cần lấy lên để xử;
b) Sơ thẩm những vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, nhưng xét thấy quan trọng hoặc phức tạp, cần lấy lên để xử;
c) Phúc thẩm những bản án hoặc những quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương bị chống án hoặc bị kháng nghị;
d) Xử lại những vụ án do Toà án mình hoặc Toà án cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Toà án nhân dân tối cao giao cho xử lại.
Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp ở địa phương, huấn luyện thư ký toà án cho địa phương, huấn luyện cán bộ tư pháp cho thị trấn và xã, và tổ chức việc tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ:
a) Xét những vụ án quan trọng hoặc phức tạp;
b) Xét và báo cáo lên Toà án nhân dân tối cao những vụ án do Toà án mình hoặc Toà án cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng phát hiện có sai lầm;
c) Hướng dẫn các Toà án cấp dưới áp dụng pháp luật và đường lối, chính sách xét xử;
d) Phân công cho các thẩm phán trong Toà án;
đ) Tổng kết kinh nghiệm xét xử.
Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương họp ít nhất mỗi tháng hai lần và quyết định theo đa số.
Chánh án Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ:
a) Báo cáo công tác của Toà án trước Hội đồng toàn thể thẩm phán Toà án;
b) Chủ toạ các phiên họp của Uỷ ban thẩm phán;
c) Chỉ định các thẩm phán để mở phiên toà; lập danh sách hội thẩm nhân dân cho các phiên toà; chủ toạ phiên toà hoặc chỉ định một thẩm phán chủ toạ phiên toà;
d) Tổ chức thống kê tư pháp;
đ) Tổ chức việc tổng kết và phổ biến kinh nghiệm xét xử;
e) Đôn đốc việc thi hành các nghị quyết của Uỷ ban thẩm phán;
g) Điều hoà công tác giữa các bộ phận của Toà án;
h) Tổ chức việc kiểm tra công tác của các Toà án nhân dân cấp dưới;
i) Chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức tư pháp ở địa phương, công tác huấn luyện thư ký Toà án cho địa phương, công tác huấn luyện cán bộ tư pháp cho thị trấn và xã, và công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Phó Chánh án giúp Chánh án làm nhiệm vụ và có thể được uỷ nhiệm thay Chánh án khi Chánh án vắng mặt.
Toà án nhân d ân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền:
a) Hoà giải những việc tranh chấp về dân sự;
b) Phân xử những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên toà;
c) Sơ thẩm những vụ án dân sự;
d) Sơ thẩm những vụ án hình sự có thể phạt từ hai năm tù trở xuống.
Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp và hướng dẫn công tác hoà giải ở các thị trấn và xã, và tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Chánh án Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ:
a) Báo cáo công tác của Toà án trước Hội đồng nhân dân cùng cấp;
b) Lập danh sách hội thẩm nhân dân cho các phiên toà, chủ toạ phiên toà hoặc chỉ định thẩm phán chủ toạ phiên toà;
c) Xét và báo cáo lên Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương những vụ án do Toà án mình đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng phát hiện thấy có sai lầm;
d) Tổ chức việc tổng kết kinh nghiệm xét xử;
e) Hướng dẫn công tác tư pháp ở các thị trấn và xã;
Tổ chức việc kiểm tra công tác tư pháp ở các thị trấn và xã;
g) Phân công cho các thẩm phán trong Toà án;
h) Chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức tư pháp ở địa phương và công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Phó chánh án giúp Chánh án làm nhiệm vụ và có thể được uỷ nhiệm thay Chánh án khi Chánh án vắng mặt.
Tổ chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế cụ thể của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo những quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của các cơ quan Nhà nước.
Tổng số biên chế của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
VIỆC BẦU CỬ THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG
Chánh án, Phó chánh án và các thẩm phán của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.
Các uỷ viên Uỷ ban thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.
Chánh án, Phó chánh án, các thẩm phán và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.
Số thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, kể cả Chánh án và Phó chánh án, có từ bốn đến bảy người. Số uỷ viên Uỷ ban thẩm phán của các Toà án nhân dân đó có từ ba đến năm người.
Số thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, kể cả Chánh án và Phó chánh án, không quá ba người.
Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể về số thẩm phán và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán cần bầu cho mỗi Toà án nhân dân địa phương trong phạm vi quy định nói trên.
VIỆC BẦU CỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN VÀ CHẾ ĐỘ CÔNG TÁC CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN
Khi Toà án nhân dân tối cao xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia thì hội thẩm nhân dân do Uỷ ban thường vụ Quốc hội cử ra, căn cứ vào sự giới thiệu của các đoàn thể nhân dân ở trung ương.
Các hội thẩm nhân dân của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.
Nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân của các Toà án nhân dân địa phương các cấp là hai năm.
Số hội thẩm nhân dân của mỗi Toà án nhân dân địa phương do Chánh án Toà án nhân dân cấp ấy căn cứ vào sự hướng dẫn của Chánh án Toà án nhân dân tối cao mà đề nghị Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
Danh sách những người ứng cử hội thẩm nhân dân của mỗi Toà án nhân dân địa phương do các đoàn thể nhân dân cùng cấp giới thiệu.
Hội thẩm nhân dân có trách nhiệm đến Toà án để làm nhiệm vụ của mình theo đúng ngày, giờ mà Toà án nhân dân đã định.
Các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp, công trường, nông trường, hợp tác xã có cán bộ, công nhân, viên chức, xã viên làm hội thẩm nhân dân, phải tạo điều kiện thuận lợi cho hội thẩm nhân dân làm nhiệm vụ.
Trong thời gian làm nhiệm vụ ở Toà án, nếu hội thẩm nhân dân là những người ăn lương của Nhà nước thì vẫn được hưởng tiền lương của mình; nếu hội thẩm nhân dân không phải là người ăn lương của Nhà nước thì được hưởng một khoản phụ cấp do Nhà nước đài thọ.
ĐIỀU KHOẢN PHỤ
Ở các khu vực tự trị, tổ chức cụ thể của các Toà án nhân dân địa phương các cấp sẽ do Hội đồng nhân dân khu vực tự trị căn cứ vào Hiến pháp, Luật tổ chức Toà án nhân dân và pháp lệnh này mà quy định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Về tổ chức của các Toà án quân sự, sẽ có quy định riêng.
Pháp lệnh này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 3 năm 1961.
(1) Theo luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 14/7/1960 (điều 13 và điều 26): Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh án, các Phó chánh án và một số thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Chánh án do Quốc hội bầu ra và bãi miễn. Các Phó chánh án và các uỷ viên khác của Uỷ ban do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |