Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Pháp lệnh về việc đặt các danh hiệu vinh dự Nhà nước: Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 1 năm 1970 và được ký ban hành bởi Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc vinh danh các cá nhân, tập thể có đóng góp đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Pháp lệnh

Pháp lệnh quy định việc thiết lập, tiêu chuẩn xét tặng, thẩm quyền quyết định, quyền lợi, nghĩa vụ và các chế tài liên quan đến hai danh hiệu vinh dự cao quý nhất của Nhà nước. Đối tượng áp dụng bao gồm:

  • Các đơn vị hoặc cá nhân hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật và hành chính.
  • Các đơn vị hoặc cá nhân thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân.
  • Các công dân khác có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật.

Thiết lập các danh hiệu vinh dự Nhà nước

  • Chính thức đặt ra hai danh hiệu vinh dự cấp Nhà nước bao gồm: Danh hiệu Anh hùng lao động và Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu Anh hùng lao động

Danh hiệu Anh hùng lao động được trao tặng cho các tập thể hoặc cá nhân đạt được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt sau:

  • Lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và với chủ nghĩa xã hội.
  • Có đạo đức cách mạng trong sáng, tinh thần đoàn kết cao.
  • Lao động dũng cảm, sáng tạo, đạt được những thành tích đặc biệt xuất sắc trong hoạt động sản xuất và công tác thực tế.
  • Có đóng góp quan trọng, thiết thực vào việc thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân được trao tặng cho các đơn vị, cá nhân trong lực lượng vũ trang hoặc công dân khác đáp ứng các điều kiện:

  • Lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.
  • Có đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh và tinh thần đoàn kết chặt chẽ.
  • Chiến đấu dũng cảm, mưu trí hoặc lập thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác phục vụ chiến đấu.
  • Góp phần trực tiếp và mạnh mẽ vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ nhân dân.

Quy định về truy tặng danh hiệu

  • Đối với những người đã hy sinh nhưng có đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn tương ứng quy định cho từng danh hiệu thì Nhà nước có thể thực hiện việc truy tặng danh hiệu Anh hùng lao động hoặc Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân để ghi nhận công lao.

Thẩm quyền xét duyệt và quyết định phong tặng

  • Thẩm quyền quyết định trao tặng các danh hiệu vinh dự này thuộc về Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Việc xét duyệt và quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội được thực hiện dựa trên cơ sở đề nghị từ phía Hội đồng Chính phủ.

Hiện vật khen thưởng đi kèm

  • Các đơn vị hoặc cá nhân khi được quyết định tặng danh hiệu Anh hùng lao động sẽ được cấp kèm theo Huy chương Anh hùng lao động.
  • Các đơn vị hoặc cá nhân khi được quyết định tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân sẽ được cấp kèm theo Huy chương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trách nhiệm của tập thể, cá nhân anh hùng và cơ quan nhà nước

  • Đối với đơn vị và cá nhân anh hùng: Phải thường xuyên tự giác chăm lo rèn luyện đạo đức cách mạng, không ngừng phát triển tài năng, giữ vững đức tính cần cù, khiêm tốn. Đồng thời, phải ra sức học tập nâng cao trình độ toàn diện để tiến bộ liên tục.
  • Đối với chính quyền và đoàn thể các cấp: Có trách nhiệm bồi dưỡng, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các đơn vị anh hùng, người anh hùng phát huy tối đa vai trò gương mẫu, đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước.

Quy định về việc phong tặng nhiều lần và tước danh hiệu

  • Phong tặng nhiều lần: Trường hợp đơn vị anh hùng hoặc cá nhân anh hùng tiếp tục lập thêm những thành tích mới đặc biệt xuất sắc thì vẫn có thể tiếp tục được xét tặng danh hiệu anh hùng và cấp huy chương anh hùng mới tương ứng.
  • Tước danh hiệu vinh dự: Nếu đơn vị hoặc cá nhân đã được phong tặng danh hiệu anh hùng nhưng sau đó phạm phải khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng, không còn xứng đáng với danh hiệu cao quý đó thì Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ xem xét và ra quyết định tước danh hiệu anh hùng.

Hiệu lực thi hành

Pháp lệnh này đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua tại Hà Nội vào ngày 15 tháng 1 năm 1970 và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 17/LCT

Hà Nội, ngày 15 tháng 1 năm 1970

PHÁP LỆNH

ĐẶT CÁC DANH HIỆU VINH DỰ NHÀ NƯỚC: ANH HÙNG LAO ĐỘNG VÀ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN

Căn cứ vào Điều 53 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà;
Để biểu dương công lao to lớn của nhân dân và của các lực lượng vũ trang nhân dân ta trong sản xuất, chiến đấu và công tác;
Để phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược;
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định:

Điều 1. Nay đặt các danh hiệu vinh dự Nhà nước:

- Anh hùng lao động,

- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều 2. DAnh hiệu Anh hùng lao động tặng cho những đơn vị hoặc cá nhân trong các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật và hành chính hoặc cho những công dân khác có đủ điều kiện sau đây:

Trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, có tinh thần đoàn kết, lao động dũng cảm và sáng tạo, lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong sản xuất và công tác, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Điều 3. Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tặng cho những đơn vị hoặc cá nhân trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân hoặc cho những công dân khác có đủ điều kiện sau đây:

Trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức và kỷ luật, có tinh thần đoàn kết, chiến đấu dũng cảm và mưu trí, lập được thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu hoặc trong công tác phục vụ chiến đấu, góp phần thúc đẩy sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

Điều 4. Danh hiệu Anh hùng lao động có thể truy tặng cho những người đã hy sinh có đủ điều kiện nêu trong Điều 2.

Danh hiệu Anh hùng vũ trang nhân dân có thể truy tặng cho những người đã hy sinh có đủ điều kiện nêu trong Điều 3.

Điều 5. Việc tặng danh hiệu Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét và quyết định, căn cứ vào đề nghị của Hội đồng Chính phủ.

Điều 6. Đơn vị hoặc cá nhân nào được tặng danh hiệu Anh hùng lao động thì được cấp huy chương Anh hùng lao động.

Đơn vị hoặc cá nhân nào được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thì được cấp huy chương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều 7. Đơn vị anh hùng và người anh hùng phải thường xuyên chăm lo rèn luyện đạo đức cách mạng, phát triển tài năng, cần cù và khiêm tốn, ra sức học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt và tiến bộ không ngừng.

Các cấp chính quyền và đoàn thể có trách nhiệm bồi dưỡng và giúp đỡ các đơn vị anh hùng và người anh hùng, tạo điều kiện cho họ phát huy đầy đủ tác dụng gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước.

Điều 8. Đơn vị anh hùng hoặc người anh hùng tiếp tục lập được thành tích đặc biệt xuất sắc mới thì có thể lại được tặng danh hiệu anh hùng và được cấp huy chương anh hùng mới.

Điều 9. Đơn vị hoặc cá nhân đã được tặng danh hiệu anh hùng, nếu phạm khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng, không xứng đáng với danh hiệu đó nữa, thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội sẽ xét và quyết định tước danh hiệu anh hùng.

Pháp lệnh này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua tại Hà Nội ngày 15 tháng 1 năm 1970.

Tôn Đức Thắng

(Đã ký)

Văn bản được căn cứ
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Pháp lệnh về việc đặt các danh hiệu vinh dự Nhà nước: Anh hùng lao động và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1970

Số hiệu: 17/LCT
Loại văn bản: Pháp lệnh
Ngày ban hành: 15/01/1970
Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Người ký: Tôn Đức Thắng
Ngày công báo: 31/01/1970
Số công báo: Số 2
Ngày hiệu lực: 27/01/1970
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Văn hóa - Xã hội
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Pháp lệnh về việc đặt các danh hiệu vinh dự N...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký