Ngày 1 tháng 4 năm 1967, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Quy định một số điểm về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp trong thời chiến, do Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố. Văn bản này được ban hành nhằm kịp thời điều chỉnh các hoạt động bầu cử, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp để thích ứng với hoàn cảnh chiến tranh phá hoại, bảo đảm tính liên tục và hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh quy định các nguyên tắc đặc thù áp dụng trong thời chiến đối với công tác bầu cử Hội đồng nhân dân, việc tổ chức các kỳ họp Hội đồng nhân dân, quy định số lượng thành viên và quy trình bổ sung nhân sự cho Ủy ban hành chính các cấp. Đối tượng áp dụng trực tiếp bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính từ cấp cơ sở (xã, thị trấn) đến cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan trong hệ thống chính quyền thời chiến.
Điều chỉnh linh hoạt các quy định về bầu cử Hội đồng nhân dân
- Hội đồng Chính phủ được trao thẩm quyền căn cứ vào tình hình thực tế chiến sự tại từng địa phương để điều chỉnh linh hoạt thời gian tiến hành các công tác chuẩn bị bầu cử Hội đồng nhân dân (thay đổi các mốc thời gian quy định tại các điều 8, 9, 15, 20, 21, 22, 29, 33 và 35 của Pháp lệnh bầu cử hiện hành).
- Cho phép điều chỉnh giờ bỏ phiếu (quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh bầu cử) nhằm bảo đảm an toàn cho cử tri trước các nguy cơ chiến tranh.
- Cho phép thay đổi thời gian tuyên bố kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân (quy định tại Điều 57 của Pháp lệnh bầu cử) phù hợp với điều kiện thông tin liên lạc và di chuyển trong thời chiến.
Cơ chế hoãn kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp
- Trong trường hợp điều kiện chiến tranh không cho phép triệu tập kỳ họp Hội đồng nhân dân đúng kỳ hạn quy định, Ủy ban hành chính cùng cấp có trách nhiệm báo cáo lên Ủy ban hành chính cấp trên trực tiếp để xem xét, quyết định việc cho phép hoãn hoặc không cho hoãn kỳ họp.
- Đối với cấp khu tự trị, tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, thẩm quyền xem xét và quyết định việc hoãn kỳ họp Hội đồng nhân dân thuộc về Hội đồng Chính phủ.
Quy định số lượng thành viên Ủy ban hành chính các cấp
Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương và hiệu quả trong tình hình mới, số lượng thành viên của Ủy ban hành chính các cấp được điều chỉnh cụ thể như sau:
- Ủy ban hành chính cấp xã, thị trấn: Số lượng thành viên quy định từ 5 đến 9 người.
- Ủy ban hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố: Số lượng thành viên quy định từ 7 đến 13 người.
- Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: Số lượng thành viên quy định từ 9 đến 17 người.
Cơ chế bổ sung thành viên Ủy ban hành chính trong thời chiến
Trong trường hợp khuyết thành viên Ủy ban hành chính trong thời chiến, việc bổ sung nhân sự được thực hiện linh hoạt theo hai phương án:
- Trường hợp Hội đồng nhân dân họp được: Hội đồng nhân dân tiến hành bầu bổ sung thành viên vào Ủy ban hành chính theo đúng thủ tục luật định.
- Trường hợp Hội đồng nhân dân không thể họp được: Áp dụng cơ chế chỉ định nhân sự trực tiếp từ cấp trên. Cụ thể: Hội đồng Chính phủ chỉ định bổ sung thành viên Ủy ban hành chính cấp khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Ủy ban hành chính khu tự trị chỉ định bổ sung cho các tỉnh trong khu; Ủy ban hành chính tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương chỉ định bổ sung cho các cấp dưới trực thuộc (huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố, xã, thị trấn).
- Thủ tục phê chuẩn sau chỉ định: Ủy ban hành chính được bổ sung nhân sự theo hình thức chỉ định có trách nhiệm báo cáo danh sách nhân sự đã được chỉ định với Hội đồng nhân dân cùng cấp trong kỳ họp gần nhất để Hội đồng nhân dân xem xét phê chuẩn.
- Quy định đặc biệt về tư cách thành viên: Trong các tình huống đặc biệt của thời chiến, người được bầu hoặc được chỉ định bổ sung vào Ủy ban hành chính có thể không nhất thiết phải là đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh có hiệu lực kể từ ngày được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua (ngày 1 tháng 4 năm 1967) và được áp dụng đặc thù trong suốt thời gian chiến tranh cho đến khi có quy định mới.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: Không số | Hà Nội, ngày 01 tháng 4 năm 1967 |
PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI NGÀY 01 THÁNG 04 NĂM 1967 QUY ĐỊNH MỘT SỐ ĐIỂM VỀ BẦU CỬ VÀ TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN HÀNH CHÍNH CÁC CẤP TRONG THỜI CHIẾN
Căn cứ vào Điều 53 của Hiến pháp nước Việt nam dân chủ cộng hoà;
Căn cứ vào Pháp lệnh bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ngày 18-1-1961 và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp ngày 27-10-1962;
Để bảo đảm nguyên tắc dân chủ trong việc bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp thích hợp với thời chiến,
UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
- Thời gian phải tiến hành các công tác chuẩn bị bầu cử Hội đồng nhân dân quy định ở các điều 8, 9, 15, 20, 21, 22, 29, 33 và 35 của Pháp lệnh bầu cử;
- Giờ bỏ phiếu quy định ở Điều 36 của Pháp lệnh bầu cử;
- Thời gian tuyên bố kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân quy định ở Điều 57 của Pháp lệnh bầu cử.
- Uỷ ban hành chính xã, thị trấn có từ 5 đến 9 người;
- Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố có từ 7 đến 13 người;
- Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có từ 9 đến 17 người.
Nếu Hội đồng nhân dân họp được thì Hội đồng nhân dân bầu bổ sung vào Uỷ ban hành chính;
Nếu Hội đồng nhân dân không họp được, thì:
- Hội đồng Chính phủ chỉ định người bổ sung vào Uỷ ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Uỷ ban hành chính khu tự trị chỉ định người bổ sung vào Uỷ ban hành chính các tỉnh trong khu;
- Uỷ ban hành chính thành phố trực thuộc trung ương và Uỷ ban hành chính tỉnh chỉ định người bổ sung vào Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố, xã, thị trấn.
Uỷ ban hành chính được bổ sung phải báo cáo về người đã được chỉ định vào Uỷ ban với Hội đồng nhân dân cùng cấp trong kỳ họp gần nhất để Hội đồng nhân dân phê chuẩn.
Trong tình hình đặc biệt, người được bầu hoặc được chỉ định bổ sung vào Uỷ ban hành chính có thể không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
- 1 Quyết định 24-CP năm 1974 về việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Thông tư 278-CP-1978 hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 316-NQ/QHK6 - 1978 và áp dụng Điều 4 Pháp lệnh năm 1967 về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trong thời chiến do Hội đồng chính phủ ban hành
- 1 Quyết định 24-CP năm 1974 về việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Hiến pháp năm 1959
- 3 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp 1962
- 4 Thông tư 278-CP-1978 hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 316-NQ/QHK6 - 1978 và áp dụng Điều 4 Pháp lệnh năm 1967 về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp trong thời chiến do Hội đồng chính phủ ban hành