Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Tóm tắt Quy định 298-TTg về việc đăng ký nhân khẩu toàn diện miền Bắc năm 1959

Quy định 298-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 1959 là một văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý dân cư, hộ khẩu và điều tra dân số toàn diện tại khu vực miền Bắc nước ta thời kỳ bấy giờ. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết và phân tích chuyên sâu toàn bộ các nội dung cốt lõi của quy định này.

1. Phạm vi đối tượng và tổ chức đăng ký nhân khẩu (Điều 1 & Điều 2)

Quy định xác định rõ ràng đối tượng phải thực hiện đăng ký và đơn vị đăng ký cơ bản như sau:

  • Đối tượng áp dụng: Tất cả mọi người Việt Nam và người ngoại kiều đang cư trú trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều thuộc diện phải đăng ký. Công tác tổ chức do Ủy ban hành chính các cấp phối hợp với Ban điều tra dân số thực hiện.
  • Đối tượng đặc thù: Các lực lượng quân đội tại ngũ, công an trong biên chế và những người cư trú trong khu vực thuộc phạm vi quản lý của quân đội, công an sẽ do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chịu trách nhiệm tổ chức đăng ký riêng.
  • Đơn vị đăng ký: Lấy "hộ" làm đơn vị đăng ký cơ bản. Mỗi hộ đăng ký theo một phiếu riêng biệt. Quy định phân chia thành hai loại hộ:
    • Hộ thông thường: Gồm một số người ăn, ở chung với nhau và có một người làm chủ hộ (bao gồm cả trường hợp người ăn ở riêng lẻ tự làm chủ hộ).
    • Hộ tập thể: Gồm nhiều người ăn, ở chung do cơ quan Nhà nước hoặc đoàn thể tổ chức quản lý.

2. Mốc thời gian và loại nhân khẩu đăng ký (Điều 3 & Điều 4)

Để đảm bảo tính chính xác và thống nhất của số liệu, quy định đưa ra các nguyên tắc nghiêm ngặt về thời gian:

  • Mốc thời gian chuẩn: Xác định vào lúc 0 giờ ngày 02 tháng 10 năm 1959 (tức 0 giờ ngày 01 tháng 9 năm Kỷ Hợi). Tình trạng nhân khẩu thường trú tại địa phương vào đúng thời điểm này là căn cứ để tiến hành đăng ký.
  • Nguyên tắc loại trừ:
    • Những người đã chết hoặc đã di chuyển chính thức đi nơi khác trước mốc thời gian trên sẽ không được đăng ký.
    • Những trẻ em mới sinh hoặc người mới đến cư trú chính thức sau mốc thời gian trên cũng không thuộc diện đăng ký trong đợt này.
  • Loại nhân khẩu đăng ký: Thống nhất đăng ký loại nhân khẩu thường trú trên phạm vi toàn miền Bắc. Mỗi công dân chỉ được phép đăng ký thường trú tại một nơi duy nhất.

3. Nguyên tắc xác định nhân khẩu thường trú (Điều 5)

Đây là nội dung cốt lõi của quy định, giải quyết các trường hợp cư trú thực tế để tránh trùng lặp hoặc bỏ sót:

  • Nguyên tắc chung: Người cư trú thường xuyên, cố định ở đâu thì đăng ký thường trú tại đó (ngoại trừ quân nhân tại ngũ và công an trong biên chế).
  • Trường hợp di chuyển chỗ ở trước mốc đăng ký:
    • Nếu có giấy chứng nhận di chuyển hẳn: Đăng ký thường trú tại nơi ở mới.
    • Nếu không có giấy chứng nhận di chuyển hẳn hoặc không rõ đi đâu: Tính từ ngày rời đi đến mốc đăng ký, nếu chưa đủ 6 tháng thì đăng ký tại nơi ở cũ; nếu đã quá 6 tháng thì đăng ký tại nơi ở mới.
  • Người không có nơi cư trú nhất định: Có mặt tại địa phương nào trong thời gian đăng ký thì đăng ký thường trú tại đó và được cấp giấy chứng nhận sau khi hoàn thành.
  • Đối với nhân khẩu trong các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông lâm trường:
    • Nhân khẩu trong biên chế: Nếu sống cùng gia đình ngoài hộ tập thể thì đăng ký theo hộ gia đình (kể cả khi đi công tác vắng mặt, đi học, nằm viện). Nếu sống trong hộ tập thể thì đăng ký theo hộ tập thể của đơn vị trực tiếp chi trả lương.
    • Nhân khẩu ngoài biên chế (hợp đồng, công nhật, gia đình cán bộ sống trong hộ tập thể): Áp dụng nguyên tắc thời hạn 6 tháng hoặc giấy chứng nhận di chuyển để xác định đăng ký theo hộ tập thể hay nơi ở cũ.

4. Quy định đăng ký đối với các đối tượng đặc thù khác (Điều 6, 7, 8 & 9)

Quy định chi tiết phương án xử lý cho từng nhóm đối tượng có tính chất cư trú đặc biệt:

  • Dân công, người bệnh, người trong trại cải tạo:
    • Người đi làm nghĩa vụ dân công: Đăng ký tại nơi cư trú cũ.
    • Người bệnh nằm viện: Đăng ký tại nơi cư trú trước khi nhập viện. Trẻ sơ sinh tại viện đăng ký theo nơi cư trú của mẹ.
    • Người ở trại hủi, trại cải tạo, phạm nhân đang ở tù hoặc bị tạm giam: Đăng ký thường trú tại nơi hiện đang quản lý hoặc giam giữ.
    • Cán bộ chờ công tác: Do cơ quan hiện đang quản lý đăng ký.
  • Người có nhiều chỗ ở hoặc được nuôi luân lưu: Đăng ký tại nơi đăng ký hộ tịch thường trú, nơi tính nhân khẩu nông nghiệp, nơi bầu cử Hội đồng nhân dân, hoặc nơi đang được nuôi dưỡng trong thời gian đăng ký.
  • Nhân khẩu cư trú hoặc hành nghề trên mặt nước:
    • Nếu có nhà trên bộ: Đăng ký tại nơi ở trên bộ.
    • Nếu sống hoàn toàn trên thuyền, bè: Đăng ký tại bến gốc mà thuyền bè đó thuộc về.
    • Nhân viên tàu thuyền quốc doanh/tư doanh: Đăng ký tại nơi ở trên bộ hoặc bến gốc của tàu.
    • Trường hợp không xác định được nơi cư trú thường xuyên: Cập bến nơi nào trong thời gian đăng ký thì nơi đó thực hiện đăng ký và cấp giấy chứng nhận.
  • Nhân khẩu du cảnh: Cư trú tại địa phương nào trong thời gian đăng ký thì thực hiện đăng ký tại địa phương đó.
  • Hộ hỗn hợp: Người ngoại kiều và người Việt Nam sống chung trong một hộ thì tiến hành đăng ký chung trong cùng hộ đó.

5. Mẫu phiếu đăng ký và tổ chức thực hiện (Điều 10, 11 & 12)

Phần cuối của quy định tập trung vào tính pháp lý của biểu mẫu và trách nhiệm thi hành của các cơ quan:

  • Mẫu phiếu đăng ký: Thống nhất sử dụng mẫu phiếu do Cục Thống kê Trung ương lập và Thủ tướng Chính phủ ban hành. Các vùng dân tộc thiểu số có chữ viết riêng (chữ Thái, chữ Hán) được phép in phiếu bằng chữ riêng nhưng phải giữ nguyên mẫu chung.
  • Nghiêm cấm thay đổi biểu mẫu: Các cấp, các ngành tuyệt đối không được làm trái quy định, không tự ý thay đổi, thêm bớt các hạng mục trong phiếu đăng ký nhân khẩu. Mọi thay đổi đặc thù phải được Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương duyệt y.
  • Trách nhiệm phối hợp: Bộ Quốc phòng và Bộ Công an có trách nhiệm đăng ký cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của mình nhưng không nằm trong biên chế quân đội, công an tại ngũ, sau đó gửi bản tổng hợp và phiếu đăng ký về Ban điều tra dân số cấp tỉnh, thành phố để tổng hợp chung.
  • Cơ quan chỉ đạo tối cao: Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương chịu trách nhiệm giải thích, hướng dẫn và đôn đốc thi hành quy định này trên toàn miền Bắc.

Quy định 298-TTg năm 1959 thể hiện tư duy quản lý dân cư chặt chẽ, khoa học và toàn diện của Nhà nước trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, tạo cơ sở dữ liệu quan trọng cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 298-TTg

Hà Nội, ngày 12 tháng 08 năm 1959

QUY ĐỊNH

VỀ VIỆC ĐĂNG KÝ NHÂN KHẨU TOÀN DIỆN MIỀN BẮC NĂM 1959.

Để tiến hành công tác điều tra dân số được thuận lợi và thống nhất trong toàn miền Bắc, nay Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành bản quy định về việc đăng ký nhân khẩu.

Bản quy định đăng ký nhân khẩu này nhằm đạt mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra dân số là thu thập những tài liệu cơ bản chính xác nhất về tình hình dân số toàn miền Bắc để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và phục vụ công tác quản lý của Nhà nước về mọi mặt.

Tình hình dân số luôn luôn di động rất phức tạp. Điều tra dân số muốn đảm bảo đạt yêu cầu chính xác nhất, không bỏ sót, tính trùng một nhân khẩu nào, cần phải có những quy định để thống nhất đăng ký giữa các địa phương trong toàn miền Bắc. Yêu cầu thống nhất đăng ký nhân khẩu theo bản quy định này, cần phải được quán triệt sâu sắc và cần được triệt để chấp hành đúng ở các cấp, các địa phương và toàn thể cán bộ điều tra dân số.

Toàn thể nhân dân có nghĩa vụ kê khai nhân khẩu cần hiểu rõ ý nghĩa, mục đích điều tra dân số và những điều quy định có quan hệ đến hộ mình, tới bản thân mình để giúp cho việc đăng ký được chính xác.

Điều 1. - Phạm vi đối tượng và tổ chức đăng ký nhân khẩu.

1. Tất cả mọi người Việt Nam và ngoại kiều cư trú trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đều phải đăng ký theo bản quy định này do Ủy ban hành chính các cấp, có Ban điều tra dân số giúp việc, phụ trách tổ chức đăng ký.

2. Các lực lượng quân đội tại ngũ, các lực lượng công an trong biên chế, không phân biệt cư trú ở đâu và những nhân khẩu khác cư trú trong khu vực thuộc phạm vi quân đội, công an do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phụ trách tổ chức đăng ký.

Điều 2. – Đơn vị đăng ký.

1. Đăng ký nhân khẩu lấy hộ làm đơn vị:

- Một hộ thông thường là một số người, không kể nhiều hay ít, ăn, ở chung với nhau và có một người đứng làm chủ hộ. Người ăn, ở riêng lẻ và tự đứng làm chủ hộ cũng coi như một hộ.

- Một hộ tập thể là một đơn vị gồm có nhiều người ăn, ở chung, do cơ quan Nhà nước hay đoàn thể tổ chức quản lý.

2. Mỗi hộ đăng ký theo một phiếu riêng.

Điều 3. - Mốc thời gian đăng ký.

Mốc thời gian để xác định nhân khẩu đăng ký là 0 giờ ngày 02 tháng 10 năm 1959, tức là 0 giờ ngày 01 tháng 9 năm Kỷ hợi.

Kể từ ngày 02 tháng 10 năm 1959, các địa phương sẽ bắt đầu và lần lượt tiến hành đăng ký nhân khẩu theo tình hình nhân khẩu thường trú ở địa phương vào mốc thời gian trên.

- Các nhân khẩu đã chết và đã di chuyển chính thức đi nơi khác trước mốc thời gian đều không được đăng ký.

- Các nhân khẩu mới sinh và mới đến ở chính thức sau mốc thời gian đều không được đăng ký.

Điều 4. - Loại nhân khẩu đăng ký.

Trong phạm vi toàn miền Bắc, thống nhất đăng ký loại nhân khẩu thường trú. Mỗi nhân khẩu chỉ được đăng ký ở một nơi là nơi thường trú.

Điều 5. - Những nguyên tắc chính để xác định nhân khẩu thường trú.

1. Trừ những nhân khẩu quân nhân tại ngũ và cán bộ, nhân viên công an trong biên chế, do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đăng ký theo điều 1, tiết 2 trên đây, tất cả các nhân khẩu cư trú thường xuyên cố định ở nơi nào, thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi ấy.

2. Các nhân khẩu đã rời khỏi chỗ ở cũ trước mốc thời gian đăng ký, nếu có giấy chứng nhận di chuyển hẳn thì đăng ký là nhân khẩu thường trú ở nơi cư trú mới.

3. Các nhân khẩu rời khỏi chỗ ở cũ trước mốc thời gian đăng ký, nếu không có giấy chứng nhận di chuyển hẳn hoặc không rõ đi đâu, thì tính từ ngày người đó rời chỗ ở cũ ra đi đến mốc thời gian đăng ký, nếu chưa đủ 6 tháng thì đăng ký tại nơi cư trú cũ, nếu đã quá 6 tháng thì đăng ký tại nơi cư trú mới.

4. Nhân khẩu không có nơi cư trú nhất định, trong thời gian tiến hành đăng ký, nếu có mặt tại đâu thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại đấy và được cấp giấy chứng nhận đã đăng ký sau khi đăng ký xong.

5. Đăng ký nhân khẩu trong các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp quốc doanh, công trường, nông, lâm trường, vv..

a) Trong biên chế:

- Cán bộ, nhân viên, công nhân cư trú thường xuyên với gia đình riêng ngoài hộ tập thể thì đăng ký tại nơi gia đình cư trú, kể cả trong trường hợp đi công tác vắng mặt, đi công tác lưu động, hoặc biệt phái đi công tác dài hạn, đi học trong nước, đi bệnh viện,…

- Cán bộ, nhân viên, công nhân cư trú thường xuyên ở trong các hộ tập thể của cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp quốc doanh, công trường, nông, lâm trường, trường học, bệnh viện, vườn trẻ, trại trẻ (không kể trại trẻ, vườn trẻ dân lập,)…, thì đăng ký là nhân khẩu thường trú theo hộ tập thể của cơ quan hay đơn vị quản lý hiện đang trực tiếp trả lương, kể cả các trường hợp cán bộ, nhân viên, công nhân đó đi công tác lưu động, biệt phái đi công tác dài hạn đi học trong nước, đi bệnh viện,… nhưng vẫn tiếp tục lĩnh lương ở cơ quan hay đơn vị quản lý cũ.

b) Ngoài biên chế:

Những nhân khẩu làm việc theo hợp đồng làm việc phụ động, công nhật,…, không ở trong biên chế của cơ quan, đoàn thể, vv… và những nhân khẩu không thuộc biên chế của Nhà nước và các đoàn thể, vv…, như gia đình cán bộ, nhân viên, công nhân và người giúp việc gia đình hiện nay cư trú trong hộ tập thể, thì đăng ký theo tiết 2 và 3 của điều này, tùy theo từng trường hợp cụ thể, nghĩa là các nhân khẩu đã rời khỏi chỗ ở cũ trước mốc thời gian đăng ký đến hộ tập thể:

- Nếu có giấy chứng nhận di chuyển hẳn thì đăng ký là nhân khẩu thường trú theo hộ tập thể.

- Nếu không có giấy chứng nhận di chuyển hẳn thì tính từ ngày người đó rời khỏi chỗ ở cũ ra đi đến mốc thời gian đăng ký, nếu chưa đủ 6 tháng thì đăng ký tại nơi cư trú cũ, nếu đã quá 6 tháng thì đăng ký là nhân khẩu thường trú theo hộ tập thể.

Điều 6. – Đăng ký các loại nhân khẩu khác.

1. Đi làm nghĩa vụ dân công: đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi cư trú cũ.

2. Thường dân nằm ở các bệnh viện: đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi cư trú trước khi vào bệnh viện. Trẻ mới sinh tại bệnh viện: đăng ký theo nơi cư trú của mẹ.

3. Nhân khẩu ở các trại hủi, trại cải tạo, phạm nhân đang ở tù, hoặc đang bị tạm giam, đều đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi hiện đang quản lý hoặc giam giữ họ.

4. Cán bộ, nhân viên nằm chờ công tác, do cơ quan hiện đang quản lý họ đăng ký.

5. Những nhân khẩu có nhiều chổ ở, khó xác định nơi cư trú thường xuyên, nếu đăng ký hộ tịch thường trú tại đâu, hoặc nếu được tính nhân khẩu nông nghiệp tại đâu, hoặc bầu cử Hội đồng nhân dân tại đâu thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi đó.

6. Những nhân khẩu được nuôi luân lưu thì đăng ký tại nơi hộ đang nuôi họ trong thời gian tiến hành đăng ký.

Điều 7. – Đăng ký các nhân khẩu cư trú, hoặc có nghề nghiệp trên mặt nước.

1. Những nhân khẩu làm ăn, sinh sống trên mặt nước, nếu có nơi cư trú trên bộ thì đăng ký là nhân khẩu trú nơi cư trú trên bộ; nếu không có nơi cư trú trên bộ mà cư trú thường xuyên trên nhà bè, thuyền bè thì nhà bè, thuyền bè ấy thuộc về bến nào thì đăng ký là nhân khẩu thường trú ở bến ấy.

2. Nhân viên làm việc trên tàu quốc doanh hoặc tư doanh, nếu có nơi cư trú trên bộ thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi cư trú trên bộ, nếu không có nơi cư trú trên bộ thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại bến gốc của tàu đó.

3. Những nhân khẩu sinh sống làm ăn trên mặt nước, cùng với thuyền bè của họ, nếu không xác định được nơi cư trú thường xuyên thì khi họ và thuyền bè cập bến tại nơi nào trong thời gian tiến hành đăng ký, nơi ấy tổ chức đăng ký và cấp giấy chứng nhận đã đăng ký cho họ.

Điều 8. – Nhân khẩu du cảnh.

Trong thời gian tiến hành đăng ký những nhân khẩu du cảnh cư trú tại địa phương nào thì đăng ký tại địa phương ấy.

Điều 9. – Người ngoại kiều và người Việt Nam ở cùng trong một hộ đều đăng ký chung trong hộ đó.

Điều 10. – Đăng ký nhân khẩu thống nhất dùng phiếu đăng ký nhân khẩu theo mẫu đính kèm do Cục Thống kê Trung ương lập và do Thủ tướng Phủ ban hành. Các vùng dân tộc thiểu số, nếu có chữ riêng (chữ Thái, chữ Hán) thì có thể in phiếu đăng ký bằng chữ riêng ấy theo mẫu chung.

Điều 11. – Ủy ban hành chính các cấp, có Ban điều tra giúp việc, có nhiệm vụ thi hành quy định đăng ký nhân khẩu này. Bộ quốc phòng, Bộ công an có nhiệm vụ thi hành quy định đăng ký này đối với các nhân khẩu không thuộc quân đội tại ngũ, công an trong biên chế, mà cư trú trong phạm vi quản lý các cơ quan quốc phòng, công an, và gửi bản tổng hợp có kèm theo các phiếu đăng ký tới Ban điều tra dân số các cấp khu, thành, tỉnh để tổng hợp chung vào dân số thường trú địa phương.

Trong khi tiến hành đăng ký, các cấp, các ngành không được làm trái với những điều ghi trong quy định này và cũng không được thay đổi, thêm bớt các hạng mục trong phiếu đăng ký nhân khẩu.

Những nơi do tình hình có những đặc điểm riêng, khi xét cần có những thay đổi hay bổ sung bản quy định này thì phải báo cáo, đề nghị với Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương, và sau khi được duyệt y mới được thi hành.

Điều 12. – Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương có trách nhiệm giải thích và hướng dẫn thi hành quy định này trong toàn miền Bắc.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

Khu, thành phố, tỉnh …….....

Quận, châu, thị xã, huyện ….

Khu phố, thị trấn, khối, xã….

Tổ, xóm……, số nhà……….

MẪU

PHIẾU ĐĂNG KÝ NHÂN KHẨU

(loại A)

Cục Thống kê Trung ương lập

Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Nghị định số ……..

Phiếu số………..tờ ………

NHÂN KHẨU THƯỜNG TRÚ

Số thứ tự

Họ và tên

Quan hệ với chủ hộ

Nam hay nữ

Tuổi

Dân tộc

Trình độ văn hóa

Nghề nghiệp

Cộng nhân khẩu thường trú ……………, trong đó: ………. nam, …………. nữ

GHI CHÚ:

Ngày …….. tháng ……. Năm 1959

Người đứng khai ký tên Người ghi phiếu ký tên

NHÂN KHẨU VẮNG MẶT (không thường trú)

Số thứ tự

Họ và tên

Quan hệ với chủ hộ

Làm gì, ở đâu?

account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quy định 298-TTg về việc đăng ký nhân khẩu toàn diện miền Bắc năm 1959 do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành

Số hiệu: 298-TTg
Loại văn bản: Quy định
Ngày ban hành: 12/08/1959
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 19/08/1959
Số công báo: Số 31
Ngày hiệu lực: 27/08/1959
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Xuất nhập khẩu
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quy định 298-TTg về việc đăng ký nhân khẩu to...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký