Quy định 605-CNNg/QLTN được ban hành năm 1992 bởi Bộ Công nghiệp nặng nhằm thiết lập các quy tắc quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước dưới đất trên phạm vi toàn quốc. Văn bản này xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc thăm dò, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên nước quý giá này, đồng thời ngăn ngừa các tác động tiêu cực gây ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường liên quan.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quy định này áp dụng đối với toàn bộ tài nguyên nước dưới đất tồn tại trong các vùng đất liền, hải đảo và các vùng khác thuộc chủ quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm các loại: nước nhạt, nước lợ, nước khoáng, nước nóng và nước công nghiệp. Đối tượng áp dụng bao gồm mọi tổ chức, công dân Việt Nam, cũng như các tổ chức và cá nhân nước ngoài cư trú hoặc hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Chế độ sở hữu và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với nước dưới đất
- Tất cả nguồn nước dưới đất, dù đã được điều tra đánh giá hay chưa, đang khai thác hay chưa khai thác, đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
- Mọi hoạt động điều tra địa chất, tìm kiếm, thăm dò và khai thác nước dưới đất chỉ được phép tiến hành khi có sự phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền được phân cấp.
- Bảo vệ nước dưới đất bao gồm việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý theo pháp luật các hoạt động thăm dò, khai thác trái phép, hoặc các hành vi gây tổn thất, ô nhiễm nguồn nước và môi trường liên quan.
- Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan Trung ương và địa phương thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước dưới đất trên phạm vi cả nước.
- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất chưa khai thác tại địa phương, đồng thời giám sát và xử lý nghiêm các hành vi thăm dò, khai thác trái phép hoặc gây ô nhiễm nguồn nước.
Quy định bảo vệ nước dưới đất trong hoạt động điều tra địa chất
- Các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện hoạt động điều tra địa chất, tìm kiếm và thăm dò nước dưới đất khi có quyết định phê duyệt phương án hoặc giấy phép từ Bộ Công nghiệp nặng.
- Trước khi triển khai thi công phương án, chủ giấy phép phải xuất trình đầy đủ giấy tờ pháp lý tại Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản cấp tỉnh.
- Quá trình thi công phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật nhằm bảo vệ tầng chứa nước và môi trường xung quanh.
- Khi kết thúc thi công, các công trình khoan không còn sử dụng phải được tiến hành trám lấp đúng kỹ thuật để cách ly hoàn toàn các tầng chứa nước với nhau và với nước mặt. Đối với các lỗ khoan giữ lại để quan trắc, phải thực hiện bảo quản tốt và bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền hoặc đơn vị sử dụng.
Quy định bảo vệ nước dưới đất trong thi công và khai thác giếng khoan
- Việc thi công giếng khoan khai thác mới, cải tạo lỗ khoan thăm dò thành giếng khai thác, hoặc mở rộng quy mô khai thác phải được sự cho phép của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (hoặc người được ủy quyền) hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Hộ khai thác nước dưới đất phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện trong giấy phép, thiết kế kỹ thuật, quy trình an toàn và bảo vệ môi trường. Đồng thời, phải thực hiện chế độ quan trắc định kỳ về mực nước, lưu lượng, chất lượng nước (hóa học, vi sinh) và báo cáo hàng năm về cơ quan cấp phép và Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước.
- Đơn vị nhận thầu thi công khoan giếng phải có giấy phép đăng ký hành nghề hợp pháp, đảm bảo năng lực kỹ thuật, am hiểu công nghệ khoan và điều kiện địa chất thủy văn tại khu vực thi công.
- Trong quá trình thi công, phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật để cách ly các tầng chứa nước và nước mặt. Nếu giếng khoan không đạt yêu cầu hoặc không sử dụng được, phải tiến hành lấp giếng đúng quy trình kỹ thuật để bảo vệ nguồn nước.
- Nghiêm cấm đặt giếng khoan khai thác nước sinh hoạt, nước khoáng, nước giải khát gần các nguồn gây ô nhiễm. Xung quanh miệng giếng phải láng nền xi măng và thiết lập đới bảo vệ vệ sinh nghiêm ngặt.
- Đối với các giếng khoan tự chảy (có áp), bắt buộc phải lắp đặt van vòi điều chỉnh để kiểm soát lưu lượng, tránh tình trạng thất thoát và lãng phí nước.
Kiểm soát các hoạt động xây dựng và xả thải ảnh hưởng đến nước dưới đất
- Việc xây dựng các công trình ngầm hoặc công trình trên mặt đất có nguy cơ gây tổn thất, ô nhiễm nguồn nước dưới đất phải có sự thỏa thuận thống nhất từ Bộ Công nghiệp nặng.
- Nghiêm cấm việc tự ý khoan lỗ, giếng hấp thụ để thải nước bẩn hoặc chôn vùi nước thải công nghiệp, sinh hoạt vào lòng đất. Hoạt động này chỉ được phép thực hiện khi có sự phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng và sự thỏa thuận của Bộ Y tế.
- Cấm tuyệt đối hành vi thải nước bẩn, nước chứa chất phóng xạ hoặc hóa chất độc hại chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn y tế vào lòng đất, các tầng chứa nước hoặc các khu vực có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Quy định 605-CNNg/QLTN có hiệu lực thi hành thống nhất trên phạm vi toàn quốc kể từ ngày ban hành năm 1992. Tất cả các quy định trước đây của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trái với quy định này đều bị bãi bỏ. Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước cùng Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện nghiêm túc quy định này.
| BỘ CÔNG NGHIỆP NẶNG ******** | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 605-CNNg/QLTN | Hà Nội, ngày 13 tháng 8 năm 1992 |
SỐ 605-CNNg/QLTN NGÀY 13-8-1992 CỦA BỘ CÔNG NGHIỆP NẶNG VỀ VIỆC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT
Căn cứ Pháp lệnh về Tài nguyên khoáng sản ngày 28-7-1989;
Căn cứ Nghị định số 95-HĐBT ngày 25-3-1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành Pháp lệnh về tài nguyên và khoáng sản;
Căn cứ Nghị định số 130-HĐBT ngày 30-4-1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Bộ Công nghiệp nặng;
Nay quy định về việc bảo vệ tài nguyên nước dưới đất như sau:
Điều 1. Tài nguyên nước dưới đất (gọi tắt là nước dưới đất) nói trong quy định này bao gồm các loại: nước nhạt, nước lợ, nước khoáng, nước nóng và nước công nghiệp.
Điều 2. Nước dưới đất tồn tại trong các vùng đất liền, các hải đảo và các vùng khác thuộc chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã được điều tra đánh giá hay chưa được điều tra đánh giá, đang được khai thác hoặc chưa được khai thác đều thuộc vốn tài nguyên của Nhà nước, do Nhà nước thống nhất quản lý.
Mọi hoạt động điều tra địa chất, tìm kiếm, thăm dò, khai thác nước dưới đất chỉ được tiến hành khi được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép theo thẩm quyền do Hội đồng Bộ trưởng quyết định.
Điều 3. Bảo vệ nước dưới đất là thực hiện các biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý theo pháp luật các hoạt động điều tra địa chất, tìm kiếm thăm dò, khai thác nước dưới đất trái phép, cũng như các hoạt động khác gây tổn thất hoặc ô nhiễm nguồn nước dưới đất và môi trường liên quan.
Điều 4. Mọi tổ chức và công dân Việt Nam , các tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú hoặc được hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều có trách nhiệm tuân thủ các quy định về quản lý bảo vệ nước dưới đất và môi trường liên quan. Tổ chức, cá nhân khai thác trái phép, gây tổn thất hoặc làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất phải bị truy cứu trách nhiệm theo pháp luật hiện hành.
Điều 5. Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan ở Trung ương và địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra Nhà nước về việc khai thác, sư dụng hợp lý, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất và môi trường liên quan trong phạm vi cả nước.
Uỷ ban Nhân dân các địa phương theo chức năng quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ tổ chức thực hiện các biện pháp đồng bộ để bảo vệ có hiệu quả các nguồn nước dưới đất chưa khai thác tại địa phương; giám sát việc thi hành pháp luật và xử lý theo thẩm quyền các hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác nước dưới đất trái phép, các hoạt động gây tổn thất hoặc ô nhiễm nguồn nước dưới đất.
Điều 6. Mọi tổ chức, cá nhân chỉ được tiến hành các hoạt động điều tra địa chất bao gồm cả việc tìm kiếm thăm dò nước dưới đất khi đã có quyết định phê chuẩn phương án của cấp có thẩm quyền hoặc giấy phép của Bộ Công nghiệp nặng.
Điều 7. Trước khi thi công phương án điều tra địa chất, tìm kiếm thăm dò nước dưới đất, tổ chức cá nhân là chủ giấy phép phải xuất trình giấy phép hoặc quyết định phê duyệt phương án của cơ quan có thẩm quyền tại Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản cấp tỉnh (nếu có).
Điều 8. Mọi hoạt động điều tra địa chất, tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất đều phải thực hiện các quy trình sản xuất hợp lý và các biện pháp thích hợp để bảo vệ các nguồn nước dưới đất và môi trường liên quan.
Điều 9. Khi kết thúc thi công phương án, mọi công trình khoan điều tra địa chất, tìm kiếm thăm dò nước dưới đất nếu không được sử dụng nữa đều phải được trám lấp đúng ký thuật, bảo đảm cách ly tốt từng tầng chứa nước riêng biệt và đối với nước mặt.
Các lỗ khoan được giữa lại để quan trắc động thái nước dưới đất hoặc cho các mục đích khác phải được bảo quản tốt và bàn giao cho tổ chức cá nhân sử dụng hoặc cơ quan quản lý tài nguyên khoáng sản của địa phương.
III. BẢO VỆ NƯỚC DƯỚI ĐẤT TRONG KHI THI CÔNG GIẾNG KHOAN KHAI THÁC
Điều 10. Việc thi công các giếng khoan khai thác nước hoặc cải tạo các lỗ khoan tìm kiếm thăm dò nước dưới đất, lỗ khoan khai thác thử nghiệm thành giếng khoan khai thác, mở rộng quy mô khai thác nước dưới đất chỉ được tiến hành sau khi đã được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng hoặc người được Bộ trưởng uỷ quyền hoặc chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh cho phép theo thẩm quyền.
Điều 11. Hộ khai thác nước dưới đất phải tuân theo các điều kiện của giấy pháp khai thác, thiết kế kỹ thuật, sơ đồ hệ thống và kết cấu giếng khoan khai thác nước dưới đất đã được duyệt, các quy tắc an toàn về khai thác, bảo vệ tầng chứa nước và môi trường liên quan; thực hiện đầy đủ chế độ quan trắc động thái mực nước, lưu lượng, lấy mẫu nước phân tích thành phần hoá học và vi sinh; báo cáo hàng năm tình hình khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước khai thác về cơ quan cấp giấy phép khai thác và Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước.
Điều 12. Tổ chức, cá nhân nhận thầu thi công khoan giếng khai thác nước dưới đất (gọi chung là hộ thi công) phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập và đăng ký hành nghề khoan giếng khai thác nước dưới đất theo quy định của pháp luật.
Hộ làm nghề thi công khoan giếng khai thác nước dưới đất phải có đủ điều kiện kỹ thuật dưới đây:
- Am hiểu công nghệ khoan giếng khai thác nước dưới đất.
- Hiểu biết điều kiện địa chất và địa chất thuỷ văn ở nơi đặt giếng khoan dự kiến.
- Có lực lượng và trang thiết bị chuyên môn đảm bảo tốt việc thi công, lắp đặt giếng khoan khai thác.
Điều 13. Trong quá trình thi công khoan giếng và khai thác nước dưới đất, hộ thi công và hộ khai thác có trách nhiệm thực hiện các biện pháp hữu hiệu để cách ly tốt riêng từng tầng chứa nước dưới đất và với nước mặt.
Trong trường hợp giếng khoan khai thác không đáp ứng được yêu cầu khai thác hoặc không thể sử dụng được thì phải lấp giếng khoan đúng kỹ thuật và bảo vệ nguồn nước dưới đất.
Điều 14. Cấm bố trí các giếng khoan khai thác nước dưới đất nhằm cung cấp nước ăn uống sinh hoạt, khai thác nước ăn uống sinh hoạt, khai thác nước khoáng chữa bệnh, giải khát đóng chai ở gần những nơi dễ gây ô nhiễm nguồn nước khai thác.
Trên bề mặt xung quanh giếng khoan khai thác phải láng nền xi măng, khoanh đới bảo vệ vệ sinh để ngăn ngừa chất thải, nhiễm bẩn nguồn nước khai thác.
Điều 15. Khi khai thác nước dưới đất có áp tại các giếng khoan tự chảy (tự phun) phải lắp van vòi điều chỉnh, không để nước tự chảy lãng phí.
Điều 16. Việc xây dựng các công trình ngầm, cũng như các công trình trên mặt đất xét thấy có nguy cơ gây tổn thất hoặc ô nhiễm nguồn nước dưới đất phải được Bộ Công nghiệp nặng thoả thuận
Điều 17. Việc khoan các lỗ khoan, giếng hấp thụ để thải nước bẩn hoặc để chôn vùi nước thải công nghiệp, sinh hoạt vào lòng đất phải được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng cho phép sau khi được Bộ Y tế thoả thuận.
Nghiêm cấm việc thải nước bẩn, chứa chất phóng xạ hoặc hoá học độc hại chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép theo quy định của Bộ Y tế vào lòng đất, các tầng chứa nước hoặc vào những khu vực có thể gây ô nhiễm các nguồn nước dưới đất.
Điều 18. Quy định này có hiệu lực thi hành thống nhất trong phạm vi cả nước kể từ ngày ban hành. Những quy định hướng dẫn trước đây của các Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp trái với quy định này đều bãi bỏ.
Điều 19. Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra việc thi hành Quyết định này.
| Trần Lum (Đã ký) |
- 1 Pháp lệnh Tài nguyên khoáng sản năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2 Nghị định 130-HĐBT năm 1990 quy định chức năng, nhiệm vụ và bộ máy của Bộ Công nghiệp nặng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Nghị định 95-HĐBT năm 1992 về việc thi hành Pháp lệnh về Tài nguyên khoáng sản do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 1 Pháp lệnh Tài nguyên khoáng sản năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2 Nghị định 130-HĐBT năm 1990 quy định chức năng, nhiệm vụ và bộ máy của Bộ Công nghiệp nặng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Nghị định 95-HĐBT năm 1992 về việc thi hành Pháp lệnh về Tài nguyên khoáng sản do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4 Thông tư liên tịch 11/1997/TTLT-BNN-BCN hướng dẫn quản lý Nhà nước đối với tài nguyên nước dưới đất do Bộ Nông Nghiệp Phát và Triển Nông Thôn-Bộ Công Nghiệp ban hành
- 5 Luật Tài nguyên nước 1998