Quyết định số 101-TC/ĐT ban hành năm 1987 do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định về chế độ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm mở rộng và bảo đảm quyền tự chủ, chủ động về nguồn vốn trong hoạt động xây dựng cơ bản của các đơn vị quốc doanh.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chế độ này được áp dụng thống nhất trong cả nước đối với tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở thuộc khu vực kinh tế quốc doanh thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn của Nhà nước hoặc nguồn vốn tự có.
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Nguồn vốn dùng cho đầu tư xây dựng cơ bản được phân định rõ ràng từ bốn nguồn chính:
- Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước: Bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, được hình thành từ một phần thu nhập quốc dân sản xuất trong nước, vốn khấu hao cơ bản tập trung, vốn dự trữ huy động, cùng đại bộ phận vốn vay nợ và viện trợ từ nước ngoài.
- Nguồn vốn tự có của tổ chức sản xuất kinh doanh: Gồm một phần hoặc toàn bộ vốn khấu hao tài sản cố định, quỹ khuyến khích phát triển sản xuất và quỹ phúc lợi của đơn vị.
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư: Do Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng quản lý, hình thành từ số thu hồi nợ vay đầu tư, số dư nợ tiền gửi vốn tự có của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm dài hạn, vốn vay tín dụng nước ngoài và vốn bổ sung từ Ngân sách Nhà nước.
- Nguồn vốn huy động trong nhân dân: Gồm tiền vốn, giá trị vật tư và công lao động do nhân dân đóng góp trực tiếp vào công trình.
Phân định phạm vi sử dụng các nguồn vốn đầu tư
Việc sử dụng nguồn vốn được quy định cụ thể cho từng loại công trình nhằm tối ưu hóa hiệu quả đầu tư:
- Vốn Ngân sách Nhà nước đầu tư cho: Các công trình thiết bị toàn bộ sử dụng vốn vay nợ hoặc viện trợ nước ngoài; công trình sản xuất kinh doanh mới hoặc cải tạo, mở rộng có thời gian thu lãi hoàn vốn từ 8 năm trở lên; công trình kinh tế kết hợp quốc phòng; công trình kết cấu hạ tầng; công trình hành chính sự nghiệp, phúc lợi công cộng và nhà ở xây dựng mới cho khu dân cư.
- Vốn tự có đầu tư cho: Các công trình sản xuất kinh doanh đầu tư mới, mở rộng hoặc cải tạo có thời gian thu lãi hoàn vốn dưới 8 năm; các công trình nhà ở và phúc lợi của các đơn vị kinh tế cơ sở đang hoạt động. Trường hợp vốn tự có không đủ, đơn vị được Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng cho vay bổ sung.
- Vốn tín dụng đầu tư áp dụng cho: Các công trình sản xuất kinh doanh xây dựng mới có thời gian thu lãi hoàn vốn dưới 8 năm; hoặc các công trình thuộc diện đầu tư bằng vốn tự có nhưng đơn vị thiếu vốn.
Lập kế hoạch và cấp phát vốn chuẩn bị đầu tư
Công tác chuẩn bị đầu tư là điều kiện tiên quyết để được cấp phát vốn:
- Các công việc chuẩn bị đầu tư chỉ được tiến hành và cấp vốn khi công trình nằm trong kế hoạch chuẩn bị đầu tư hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Hàng năm, các Bộ, ngành và địa phương lập kế hoạch cấp phát vốn chuẩn bị đầu tư chi tiết cho từng công trình gửi cơ quan Tài chính đồng cấp xét duyệt và thông báo cho Ngân hàng nơi mở tài khoản để làm căn cứ thanh toán.
- Vốn chuẩn bị đầu tư của các tổ chức sản xuất kinh doanh do nguồn vốn tự có bảo đảm. Khi công tác chuẩn bị kết thúc, nếu luận chứng kinh tế - kỹ thuật được duyệt, số vốn này được tính vào giá trị công trình (đối với công trình ngân sách cấp) hoặc chuyển thành vốn vay hoàn trả ngân sách (đối với công trình tín dụng). Trường hợp không được duyệt, cơ quan chủ quản phải báo cáo Nhà nước để xin duyệt bỏ.
Tiêu chuẩn sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành được cấp phát hoặc cho vay
Việc cấp phát hoặc cho vay vốn chỉ được thực hiện khi có sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành đạt tiêu chuẩn:
- Đối với sản phẩm xây lắp: Khối lượng thi công phải hoàn thành đạt tiêu chuẩn quy định của Tổng cục Thống kê và đã được nghiệm thu bàn giao theo đúng thủ tục.
- Đối với máy móc, thiết bị: Được cấp phát hoặc cho vay khi chủ đầu tư nhận hàng, có đầy đủ hợp đồng mua bán/gia công, giấy báo nhận hàng và phiếu báo giá của bên bán. Các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản và gia công thiết bị được thanh toán theo thực tế hoàn thành từng lần.
- Đối với chi phí khác: Chi phí thiết kế được cấp theo tiến độ và hợp đồng thanh toán; chi phí lán trại tạm thời loại lớn (2,8%) cấp theo dự toán và hợp đồng nhận thầu; chi phí đền bù giải phóng mặt bằng được thanh toán gọn sau khi hoàn thành từng đợt.
Quy trình lập, xét duyệt và điều chỉnh kế hoạch vốn hàng năm
Quy trình lập kế hoạch vốn được thực hiện chặt chẽ từ cơ sở lên Trung ương:
- Đối với công trình do Trung ương quản lý: Chủ đầu tư lập kế hoạch gửi Bộ chủ quản. Bộ chủ quản tổng hợp gửi Bộ Tài chính và Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam. Sau khi kế hoạch năm được phê duyệt, Bộ Tài chính thông báo chỉ tiêu cấp phát vốn cho Bộ chủ quản để thông báo lại cho chủ đầu tư và Ngân hàng phục vụ việc thanh toán.
- Đối với công trình do địa phương quản lý: Chủ đầu tư gửi kế hoạch cho Sở chủ quản hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện. Các cơ quan này tổng hợp gửi Sở Tài chính và Ngân hàng tỉnh để trình Ủy ban nhân dân tỉnh gửi Bộ Tài chính và Ngân hàng Trung ương cân đối, thông báo chỉ tiêu thực hiện.
- Điều chỉnh kế hoạch: Trong năm, nếu có sự thay đổi về kế hoạch đầu tư hoặc tiến độ thực hiện giữa các công trình, các Bộ và địa phương phải chủ động làm việc với cơ quan Tài chính để điều chỉnh kịp thời nguồn vốn cấp phát trong phạm vi tổng hạn mức được duyệt.
Bảo đảm nguồn vốn và thực hiện thanh toán
Các cơ quan tài chính, ngân hàng và chủ đầu tư có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để bảo đảm dòng vốn:
- Cơ quan Tài chính các cấp phải cấp vốn ngân sách đầy đủ, kịp thời theo định kỳ hàng tháng sang Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng để thực hiện thanh toán cho các công trình.
- Các đơn vị sử dụng vốn tự có phải trích nộp đầy đủ, đúng hạn các quỹ vào tài khoản mở tại Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng để bảo đảm nguồn thanh toán.
- Đối với các công trình thiết bị toàn bộ, thiết bị thi công đi kèm được chuyển thành vốn cấp phát cho đơn vị xây lắp để giảm vốn đầu tư công trình. Vật tư, nguyên liệu nhập ngoại phục vụ xây lắp được cấp phát ứng trước cho chủ đầu tư và khấu trừ dần vào giá trị sản phẩm xây lắp hoàn thành.
Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm
Tăng cường kỷ luật tài chính thông qua cơ chế kiểm tra đa tầng:
- Cơ quan chủ quản đầu tư có trách nhiệm kiểm tra thường xuyên việc sử dụng vốn của các chủ đầu tư, xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng sai mục đích.
- Cơ quan Tài chính các cấp có quyền thu hồi số vốn đã cấp phát, cho vay hoặc tạm ngừng chuyển vốn nếu phát hiện đơn vị sử dụng vốn sai chế độ, chính sách.
- Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng có trách nhiệm kiểm tra các căn cứ thanh toán, bảo đảm số vốn cấp ra khớp với giá trị sản phẩm hoàn thành thực tế và có quyền ngừng cấp phát, cho vay hoặc thu hồi nợ trước hạn nếu phát hiện sai phạm.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Chế độ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 4 năm 1987. Các quy định trước đây trái với chế độ này đều bãi bỏ. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm ban hành các hướng dẫn cụ thể về việc chuyển vốn giữa Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 101-TC/ĐT | Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 1987 |
Căn cứ Quyết định số 90-CT ngày 18-4-1978 của Hội đồng Chính phủ và Nghị định số 132-HĐBT ngày 13-8-1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi tổ chức bộ máy của Bộ Tài chính;
Căn cứ Nghị định số 232-CP ngày 6-6-1981 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản.
Căn cứ Quyết định số 76-HĐBT ngày 26-6-1986 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định tạm thời về quyền tự chủ Tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở và giao nhiệm vụ cho Bộ Tài chính ban hành chế độ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản; và cơ chế kinh doanh xã hội chủ nghĩa quản lý Nhà nước của Ngân hàng để bảo đảm quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở,
|
| Hồ Tế (Đã ký) |
CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 01-TC ngày 20-3-1987 của Bộ Tài chính)
Điều 1. Chế độ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhằm mở rộng và đảm bảo quyền tự chủ, chủ động về nguồn vốn, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các đơn vị kinh tế cơ sở; thực hiện đầy đủ chức năng của tài chính trong việc cấp phát vốn và tăng cường vai trò kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng đầu tư và xây dựng trong quá trình cấp vốn và thanh toán (thay cơ quan tài chính) hoặc cho vay thanh toán đối với chủ đầu tư. Các chủ đầu tư được ngân sách cấp phát, Ngân hàng cho vay vốn hoặc sử dụng nguồn vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản có trách nhiệm quản lý và sử dụng vốn đúng mục đích, đúng kế hoạch được duyệt và bảo đảm hiệu quả kinh tế cao.
- Đối với công trình thuộc ngân sách đầu tư, cơ quan tài chính thông báo kế hoạch cấp phát vốn cho cơ quan chủ quản để thông báo cho chủ đầu tư đối với từng công trình; đồng thời căn cứ vào tiến độ thực hiện kế hoạch để cấp phát vốn cho chủ đầu tư thông quan Ngân hàng đầu tư và xây dựng; Ngân hàng đầu tư và xây dựng thay mặt cơ quan tài chính cấp vốn thanh toán sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành cho đơn vị.
- Đối với công trình tín dụng đầu tư, Ngân hàng đầu tư và xây dựng thông báo kế hoạch cho vay vốn cho cơ quan chủ quản để thông báo cho chủ đầu tư; đồng thời căn cứ vào tiến độ thực hiện kế hoạch để cho vay thanh toán sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành.
- Đối với công trình đầu từ bằng vốn tự có, Ngân hàng đầu tư và xây dựng căn cứ vào kế hoạch đơn vị được duyệt để cấp vốn thanh toán sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành theo tiến độ thực hiện kế hoạch, đúng với chế độ quy định của Nhà nước, theo yêu cầu của thủ trưởng đơn vị.
Ngân hàng đầu tư và xây dựng thực hiện việc cấp phát, cho vay và thanh toán sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành được đầy đủ, kịp thời, thuận tiện, đúng chế độ, theo kế hoạch cấp phát vốn đầu tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc cho vay vốn của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước. Đồng thời chịu trách nhiệm với cơ quan tài chính, chủ đầu tư (đối với công trình thuộc diện đầu tư bằng vốn tự có) về việc cấp phát, cho vay và thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản và quyết toán vốn với cơ quan tài chính.
- Các công trình thiết bị toàn bộ do Chính phủ vay nợ và nhận viện trợ của nước ngoài;
- Các công trình sản xuất, kinh doanh được xây dựng mới có thời gian thu lãi đủ hoàn vốn từ 8 năm trở lên;
- Các công trình sản xuất, kinh doanh (được xây dựng mở rộng, cải tạo, khôi phục) có thời gian thu lãi đủ hoàn vốn từ 8 năm trở lên của các đơn vị kinh tế cơ sở đang hoạt động;
- Các công trình kinh tế kết hợp với quốc phòng;
- Các công trình đầu tư xây dựng mới thuộc kết cấu hạ tầng;
- Các công trình (không có tính chất sản xuất, kinh doanh) đầu tư xây dựng mới, mở rộng, cải tạo của các cơ quan hành chính, sự nghiệp;
- Các công trình phúc lợi phục vụ công cộng;
- Các công trình nhà ở được xây dựng mới cho các khu dân cư.
- Các công trình sản xuất, kinh doanh đầu tư xây dựng, mở rộng, cải tạo, khôi phục có thời gian thu lãi đủ hoàn vốn dưới 8 năm và các công trình nhà ở, phúc lợi của các đơn vị kinh tế cơ sở đang hoạt động.
Để đầu tư xây dựng các công trình nói trên, trước hết phải động viên tối đa nguồn vốn tự có về đầu tư xây dựng cơ bản của đơn vị để bảo đảm trường hợp nguồn vốn tự có không đủ thì được Ngân hàng đầu tư vào xây dựng cho vay bổ sung.
- Các công trình sản xuất, kinh doanh được xây dựng mới có thời gian thu lãi đủ hoàn vốn dưới 8 năm.
- Các công trình thuộc diện đầu tư bằng nguồn vốn tự có, nhưng nguồn vốn tự có của đơn vị không đáp ứng đủ.
- Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng lập kế hoạch cấp phát vốn chuẩn bị đầu tư cho từng công trình do đơn vị mình quản lý và gửi cho Bộ Tài chính.
- Các sở chủ quản, Uỷ ban Nhân dân các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lập kế hoạch cấp phát vốn chuẩn bị đầu tư cho từng công trình do đơn vị mình quản lý và gửi cho Sở Tài chính.
Riêng các công trình chuẩn bị đầu tư do địa phương quản lý nhưng thuộc nguồn tập trung do Ngân sách Trung ương bảo đảm thì Sở Tài chính các tỉnh, thành phố đặc khu có trách nhiệm tổng hợp kế hoạch cấp phát vốn chuẩn bị đầu tư gửi Bộ Tài chính để làm căn cứ bố trí kế hoạch cấp phát vốn đầu tư tập trung của ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương.
Ngân hàng đầu tư và xây dựng có trách nhiệm thay mặt cơ quan Tài chính cấp vốn thanh toán khối lượng công việc chuẩn bị đầu tư cho các chủ đầu tư kịp thời theo từng khoản mục chi phí chuẩn bị đầu tư theo đúng chế độ Nhà nước quy định và theo đúng tiến độ hoàn thành các công việc chuẩn bị đầu tư, trong phạm vi kế hoạch cấp phát vốn chuẩn bị đầu tư của từng công trình đã được Bộ tài chính thông báo.
Khi luận chứng kinh tế - kỹ thuật được duyệt và công trình được ghi vào kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản thì số vốn chuẩn bị đầu tư dã được cấp phát sẽ được xử lý như sau: Nếu công trình thuộc diện Ngân sách đầu tư thì số vốn cấp phát được tính chuyển vào giá trị công trình; Nếu công trình thuộc diện tín dụng đầu tư thì đầu tư được Ngân hàng đầu tư và xây dựng cho vay để nộp hoàn trả ngân sách Nhà nước.
Trường hợp luận chứng kinh tế - kỹ thuật của công trình không được phê duyệt thì cơ quan chủ quản báo cáo Nhà nước để xin duyệt bỏ số vốn đã cấp phát cho công tác chuẩn bị đầu tư.
Số vốn được ngân sách cấp phát hoặc Ngân hàng cho vay tính cho mỗi lần nhận hàng theo số lượng và giá mua ghi trên phiếu báo giá.
- Giá trị sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành (bao gồm xây lắp, thiết bị, kiến thiết cơ bản khác) trong kế hoạch tính đến cuối năm báo cáo chưa được ngân sách cấp phát hoặc Ngân hàng cho vay vốn đầu tư.
- Giá trị sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành (bao gồm xây lắp, thiết bị, kiến thiết cơ bản khác) trong năm kế hoạch đủ tiêu chuẩn để ngân sách cấp phát hoặc Ngân hàng cho vay vốn đầu tư.
- Giá trị sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành (bao gồm xây lắp, thiết bị, kiến thiết cơ bản khác) của năm kế hoạch nhưng phải chuyển sang năm sau để ngân sách cấp phát hoặc Ngân hàng cho vay vốn đầu tư.
- Tổng số vốn để ngân sách cấp phát hoặc Ngân hàng cho vay vốn đầu tư trong năm kế hoạch, được phân chia theo các tháng phù hợp với từng thời điểm có sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành thanh toán.
- Tổng mức vốn đầu tư được duyệt và tổng tiến độ thực hiện đầu tư của từng công trình, hạng mục công trình.
- Kết quả đầu tư được tích luỹ kể từ khởi công đến cuối năm báo cáo của từng công trình hoặc hạng mục công trình.
- Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản được duyệt, các mục tiêu phải hoàn thành trong năm kế hoạch.
- Các hợp đồng mua sắm máy móc, thiết bị (bao gồm thiết bị nhập khẩu và sản xuất trong nước); dự kiến máy móc thiết bị nhận về trong năm kế hoạch theo các hợp đồng đã ký kết.
1. Đối với các công trình do các Bộ, Uỷ ban Nhà nước và các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng (sau đây gọi tắt là các Bộ) quản lý.
- Bộ Tài chính cân đối, tổng hợp, duyệt và thông báo kế hoạch cấp phát vốn đầu tư (đối với công trình do ngân sách đầu tư) cho Bộ chủ quản theo từng công trình (theo biểu số 6-TB/KHĐT), đồng thời căn cứ vào kế hoạch đã thông báo nói trên thực hiện việc cấp vốn đầu tư theo kế hoạch cấp phát vốn đầu tư của từng công trình qua Ngân hàng đầu tư và xây dựng cấp vốn thanh toán theo kế hoạch cấp phát của Bộ Tài chính theo chế độ quy định thống nhất của Nhà nước.
- Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam xem xét, tổng hợp, duyệt và thông báo kế hoạch cho vay vốn đầu tư (đối với công trình tín dụng đầu tư) cho Bộ chủ quản theo từng công trình.
2. Đối với công trình do các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quản lý (sau đây gọi chung là các tỉnh).
- Uỷ ban Nhân dân thành phố, quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là huyện) nếu công trình đó do huyện quản lý.
- Các Sở chủ quản nếu công trình đó do Sở quản lý.
- Ngân hàng nơi chủ đầu tư mở tài khoản.
- Sở Tài chính có trách nhiệm xem xét, tổng hợp kế hoạch ngân sách cấp phát vốn đầu tư các công trình do tỉnh quản lý (theo biểu số 3A-KH/ĐT và 3B-BC/ĐT) trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh để gửi cho Bộ Tài chính.
- Ngân hàng đầu tư và xây dựng tỉnh có trách nhiệm xem xét, tổng hợp kế hoạch cho vay vốn đầu tư (các công trình thuộc diện tín dụng đầu tư do tỉnh quản lý (theo biểu số 3A-KH/ĐT và 3B-BC/ĐT) trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh để gửi Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam theo hướng dẫn của Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam.
- Sở Tài chính thông báo kế hoạch cấp phát vốn đầu tư (đối với công trình ngân sách đầu tư) cho các Sở chủ quản và Uỷ ban Nhân dân các huyện.
- Ngân hàng đầu tư và xây dựng tỉnh thông báo kế hoạch cho vay vốn đầu tư (đối với công trình tín dụng đầu tư) cho các Sở chủ quản và Uỷ ban Nhân dân các huyện.
Các Sở chủ quản, Uỷ ban Nhân dân các huyện làm việc với Sở Tài chính tỉnh, các Bộ làm việc với các Bộ Tài chính để kịp thời điều chỉnh kế hoạch cấp vốn sang Ngân hàng đầu tư và xây dựng đồng cấp giữa các lần trong năm.
Số vốn của mỗi lần chuyển bằng tổng giá trị sản phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành trong từng thời kỳ đó.
- Trường hợp Ngân hàng đầu tư và xây dựng đã huy động tối đa các nguồn vốn (như đã nêu trong điều 7) mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu tín dụng đầu tư của các công trình trong kế hoạch được duyệt theo chế độ Nhà nước quy định, thì phần còn thiếu được Bộ Tài chính cân đối vào Ngân sách Trung ương và cấp vốn cho Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam để bổ sung nguồn vốn tín dụng đầu tư.
- Trường hợp các nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng đầu tư và xây dựng huy động được nhiều hơn nhu cầu cho vay vốn đầu tư, thì Ngân hàng đầu tư và xây dựng phải nộp lại Ngân sách Trung ương phần chênh lệch thừa.
Việc phân định sản phẩm thiết bị được cấp phát vốn đầu tư thực hiện như quy định trong các điều (23, 24, 25) của chế độ này.
Số vốn đã cấp phát ứng trước cho từng lần nhận hàng (vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu) về kèm theo thiết bị nhập nói trên sẽ khấu trừ dần vào từng lần cấp phát vốn thanh toán sản phẩm xây lắp hoàn thành.
Số tiền phải khấu trừ trong mỗi lần cấp phát sản phẩm xây lắp hoàn thành sẽ do Ngân hàng đầu tư xây dựng phối hợp với chủ đầu tư và các tổ chức thi công xây lắp tính toán và xác định bảo đảm số tiền khấu trừ này tương ứng với giá trị vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu nhập ngoại cấu thành trong sản phẩm xây lắp hoàn thành được cấp phát.
Đối với những vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho công tác xây lắp của công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm mở sổ theo dõi riêng một cách chính xác và đầy đủ số đã nhận và số giao cho từng tổ chức thi công xây lắp, để làm cơ sở cho việc khấu trừ vào giá trị sản phẩm xây lắp hoàn thành được cấp phát; Ngân hàng đầu tư và xây dựng cơ bản có trách nhiệm kiểm tra và thực hiện việc thay cơ quan tài chính khấu trừ vào số vốn phải cấp phát cho sản phẩm xây lắp hoàn thành theo quy định tại điều 58 của chế độ này.
- 1 Chỉ thị 261-CT năm 1987 về tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo mục tiêu kế hoạch Nhà nước do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Thông tư 66-TC/ĐTPT-1996 hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Thông tư 63-TC/ĐTPT-1996 hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Quyết định 76-HĐBT năm 1986 ban hành các bản quy định tạm thời về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Chỉ thị 261-CT năm 1987 về tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo mục tiêu kế hoạch Nhà nước do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3 Thông tư 66-TC/ĐTPT-1996 hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Thông tư 63-TC/ĐTPT-1996 hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do Bộ Tài chính ban hành
- 5 Nghị định 232-CP năm 1981 Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản do Hội đồng Chính phủ ban hành