Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

TỔNG QUAN VỀ QUYẾT ĐỊNH 1048/QĐ-BTP NĂM 2010

Quyết định số 1048/QĐ-BTP được Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành ngày 15 tháng 4 năm 2010, quy định chi tiết về tiêu chí, trình tự và thủ tục thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền hoặc trách nhiệm của Bộ Tư pháp. Đây là văn bản nghiệp vụ quan trọng, cụ thể hóa các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 24/2009/NĐ-CP, nhằm nâng cao chất lượng, tính khoa học và tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam.

1. Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc thẩm định cốt lõi

- Phạm vi điều chỉnh của Quyết định:

  • Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Dự thảo nghị định của Chính phủ.
  • Dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
  • Dự thảo thông tư do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành.

- Các nguyên tắc thẩm định bắt buộc:

  • Tính khách quan và khoa học: Đảm bảo việc đánh giá dự thảo dựa trên cơ sở thực tiễn, lý luận pháp lý vững chắc, không thiên vị.
  • Tuân thủ thủ tục và thời hạn: Phải thực hiện nghiêm túc theo trình tự, thủ tục và thời hạn được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 24/2009/NĐ-CP và Quyết định này.
  • Sự phối hợp chặt chẽ: Tăng cường phối hợp giữa các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Tư pháp và giữa Bộ Tư pháp với các cơ quan, tổ chức liên quan; đề cao nguyên tắc thảo luận tập thể trong đơn vị chủ trì thẩm định.

2. Phân công trách nhiệm trong Bộ Tư pháp

- Trách nhiệm của Lãnh đạo Bộ:

  • Bộ trưởng thống nhất phụ trách chung toàn bộ công tác thẩm định. Thứ trưởng Thường trực thay mặt điều hành khi Bộ trưởng vắng mặt.
  • Các Thứ trưởng trực tiếp phụ trách công tác thẩm định theo từng lĩnh vực chuyên môn được phân công. Đối với các dự án, dự thảo có nội dung phức tạp, nhạy cảm hoặc đặc biệt quan trọng, Thứ trưởng phụ trách phải báo cáo xin ý kiến chỉ đạo trực tiếp từ Bộ trưởng.

- Phân công giữa các đơn vị thuộc Bộ:

  • Các đơn vị chuyên môn chủ trì thẩm định theo lĩnh vực được phân công.
  • Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật đóng vai trò là đầu mối tổ chức thẩm định đối với các dự án, dự thảo do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo và dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
  • Quy định rõ cơ chế chuyển giao hồ sơ khi nội dung dự thảo thuộc chức năng chuyên môn của đơn vị khác để tránh chồng chéo.

- Trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị chủ trì thẩm định:

  • Phân công lãnh đạo đơn vị trực tiếp phụ trách và cử báo cáo viên nghiên cứu hồ sơ.
  • Yêu cầu cơ quan soạn thảo thuyết trình, cung cấp thêm thông tin, tài liệu liên quan hoặc tổ chức khảo sát thực tế khi cần thiết.
  • Tổ chức các cuộc họp tư vấn thẩm định với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các cơ quan hữu quan.

3. Hệ thống tiêu chí thẩm định toàn diện

Quyết định 1048/QĐ-BTP thiết lập một hệ thống tiêu chí thẩm định chặt chẽ, yêu cầu báo cáo thẩm định phải phân tích sâu sắc các khía cạnh sau:

- Sự cần thiết ban hành văn bản:

  • Đánh giá lý do ban hành (thể chế hóa chủ trương của Đảng, chi tiết hóa văn bản cấp trên, giải quyết bất cập thực tiễn hoặc lấp đầy khoảng trống pháp lý).
  • Đánh giá khả năng giải quyết triệt để các vấn đề xã hội của dự thảo nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.

- Đối tượng và phạm vi điều chỉnh:

  • Xem xét sự tương thích, phù hợp giữa đối tượng quản lý và phạm vi điều chỉnh của dự thảo với các chính sách cơ bản và các điều khoản cụ thể trong văn bản.

- Sự phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng:

  • Xác định rõ các văn kiện của Đảng làm căn cứ pháp lý và chính trị.
  • Trường hợp phát hiện quy định chưa phù hợp với văn kiện nhưng phù hợp với thực tiễn và có lợi cho người dân, cơ quan thẩm định phải kiến nghị xin ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.

- Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất:

  • Tính hợp hiến: Đánh giá sự phù hợp với các nguyên tắc, tinh thần của Hiến pháp về chế độ chính trị, kinh tế, quyền con người, quyền công dân và bộ máy nhà nước.
  • Tính hợp pháp: Kiểm tra thẩm quyền ban hành (cả về hình thức và nội dung) và sự phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn.
  • Tính thống nhất, đồng bộ: Đánh giá sự tương thích với các văn bản khác trong cùng hệ thống pháp luật do cùng cấp ban hành.
  • Tính tương thích quốc tế: Đánh giá mức độ nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhận diện các rào cản pháp lý phát sinh và đề xuất hướng xử lý.

- Tính khả thi của dự án, dự thảo:

  • Đánh giá sự phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực, nguồn tài chính và trình độ dân trí.
  • Xem xét tính hợp lý của các biện pháp quản lý và chế tài xử phạt.
  • Đảm bảo các quy định rõ ràng, cụ thể để có thể áp dụng trực tiếp ngay khi văn bản có hiệu lực mà không cần đợi văn bản hướng dẫn chi tiết (trừ trường hợp ủy quyền lập pháp).
  • Đảm bảo phù hợp với tiến trình cải cách hành chính nhà nước.

- Ngôn ngữ và kỹ thuật soạn thảo:

  • Đánh giá tính khoa học của bố cục văn bản.
  • Yêu cầu sử dụng thuật ngữ pháp lý nhất quán, rõ ràng, đơn nghĩa, dễ hiểu và tuân thủ nghiêm ngặt thể thức trình bày văn bản quy phạm pháp luật.

4. Quy trình, thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ thẩm định

- Tiếp nhận hồ sơ:

  • Văn phòng Bộ Tư pháp tiếp nhận, kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ theo quy định. Nếu thiếu tài liệu, Văn phòng Bộ yêu cầu cơ quan soạn thảo bổ sung kịp thời.
  • Sau khi nhận đủ hồ sơ, Văn phòng Bộ chuyển ngay đến đơn vị chủ trì thẩm định và gửi một bộ hồ sơ đến Lãnh đạo Bộ phụ trách.

- Quy trình thẩm định không thành lập Hội đồng thẩm định:

  • Đơn vị chủ trì giao phòng chuyên môn hoặc nhóm chuyên viên nghiên cứu.
  • Tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định do Lãnh đạo Bộ hoặc lãnh đạo đơn vị chủ trì với sự tham gia của cơ quan soạn thảo và các chuyên gia.
  • Xây dựng dự thảo báo cáo thẩm định trình Lãnh đạo Bộ ký duyệt.

- Quy trình thẩm định có thành lập Hội đồng thẩm định:

  • Trường hợp áp dụng: Đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, nghị định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo.
  • Hoạt động của Hội đồng: Cuộc họp do Chủ tịch Hội đồng triệu tập và chủ trì, chỉ tiến hành khi có ít nhất 1/2 số thành viên tham dự. Ý kiến của các thành viên vắng mặt phải được gửi bằng văn bản và được Thư ký công bố tại cuộc họp.
  • Báo cáo thẩm định: Được xây dựng trên cơ sở biên bản cuộc họp Hội đồng và ý kiến kết luận của Chủ tịch Hội đồng.

- Thẩm định văn bản do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo và Thông tư của Bộ trưởng:

  • Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật chủ trì tổ chức thẩm định.
  • Lãnh đạo Bộ ký báo cáo thẩm định đối với dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
  • Thủ trưởng đơn vị chủ trì thẩm định ký báo cáo thẩm định đối với dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

5. Chế độ lưu trữ, thông tin và hiệu lực thi hành

- Lưu trữ hồ sơ thẩm định:

  • Hồ sơ thẩm định (gồm hồ sơ gốc, biên bản họp, báo cáo thẩm định, báo cáo giải trình tiếp thu) được lưu trữ tại đơn vị chủ trì thẩm định trong vòng 01 năm trước khi chuyển giao cho đơn vị lưu trữ lịch sử của Bộ.
  • Báo cáo thẩm định phải được gửi đến Văn phòng Bộ để ghi sổ theo dõi và gửi Cục Công nghệ thông tin để đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp (phục vụ tra cứu nội bộ).

- Ngoại lệ đối với thủ tục rút gọn:

  • Các dự án, dự thảo được xây dựng theo thủ tục rút gọn hoặc theo chỉ đạo khẩn cấp của Thủ tướng Chính phủ để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước cấp bách không bắt buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn thẩm định thông thường quy định tại Quyết định này.

- Hiệu lực thi hành:

  • Quyết định 1048/QĐ-BTP chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 4 năm 2010.
  • Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi và tổng hợp các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện để báo cáo Bộ trưởng xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung khi cần thiết.

BỘ TƯ PHÁP
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------

Số: 1048/QĐ-BTP

Hà Nội, ngày 08 tháng 4 năm 2010

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN, DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

BỘ TRƯỞNG

Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Căn cứ Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật,

QUYẾT ĐỊNH:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Quyết định này quy định về tiêu chí, trình tự, thủ tục thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

2. Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi điều chỉnh của Quyết định này bao gồm:

a) Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

b) Dự thảo nghị định của Chính phủ;

c) Dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

d) Dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Điều 2. Nguyên tắc thẩm định

Việc thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi chung là dự án, dự thảo) phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

1. Bảo đảm tính khách quan và khoa học;

2. Tuân thủ trình tự, thủ tục và thời hạn thẩm định dự án, dự thảo theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là Nghị định số 24/2009/NĐ-CP) và Quyết định này;

3. Bảo đảm sự phối hợp giữa các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, phối hợp giữa Bộ Tư pháp với cơ quan liên quan; bảo đảm có sự trao đổi, thảo luận tập thể trong đơn vị được giao thẩm định dự án, dự thảo.

Điều 3. Phân công phụ trách thẩm định trong Lãnh đạo Bộ

1. Bộ trưởng phụ trách chung về công tác thẩm định dự án, dự thảo. Thứ trưởng Thường trực phụ trách chung công tác thẩm định khi Bộ trưởng vắng mặt.

2. Các Thứ trưởng giúp Bộ trưởng trực tiếp phụ trách công tác thẩm định dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực theo sự phân công của Bộ trưởng; giải quyết công việc liên quan đến công tác thẩm định được phân công cho Thứ trưởng khác phụ trách khi Thứ trưởng đó vắng mặt.

3. Đối với những dự án, dự thảo quan trọng hoặc những dự án, dự thảo có vấn đề phức tạp, nhạy cảm, Thứ trưởng phụ trách có trách nhiệm báo cáo Bộ trưởng và xin ý kiến chỉ đạo về ý kiến thẩm định.

Điều 4. Phân công thẩm định trong các đơn vị thuộc Bộ

1. Các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm chủ trì thẩm định dự án, dự thảo theo sự phân công của Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách.

2. Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật có trách nhiệm làm đầu mối tổ chức việc thẩm định dự án, dự thảo do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Đối với dự án, dự thảo này thì Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách quyết định thành lập Hội đồng thẩm định, chỉ định đơn vị chủ trì thẩm định.

3. Trong trường hợp dự án, dự thảo cần có sự phối hợp thẩm định của nhiều đơn vị thì một đơn vị được phân công chủ trì thẩm định, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật và các đơn vị khác có liên quan phối hợp thẩm định.

Trong trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung dự án, dự thảo được phân công thẩm định thuộc lĩnh vực chuyên môn của đơn vị khác thì thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì thẩm định đề nghị Lãnh đạo Bộ phân công đơn vị khác chủ trì.

Điều 5. Trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định

1. Phân công một lãnh đạo đơn vị phụ trách việc tổ chức thẩm định dự án, dự thảo;

2. Đề nghị các đơn vị liên quan phối hợp thẩm định khi xét thấy cần thiết;

3. Đề xuất việc yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo trước khi thẩm định;

4. Đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cung cấp thông tin và tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo được thẩm định;

5. Đề xuất việc tổ chức khảo sát thực tế về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo trong trường hợp cần thiết;

6. Tổ chức hoặc đề xuất Lãnh đạo Bộ tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định với sự tham gia của cơ quan chủ trì soạn thảo và đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan, các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý.

Điều 6. Xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ trong quá trình tham gia soạn thảo, thẩm định dự án, dự thảo

1. Trong quá trình tham gia xây dựng dự án, dự thảo, chuyên viên được phân công tham gia phải xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị trước khi phát biểu ý kiến nhân danh Bộ Tư pháp. Trong trường hợp cần thiết, Lãnh đạo đơn vị có trách nhiệm báo cáo Thứ trưởng phụ trách trực tiếp để xin ý kiến chỉ đạo về những vấn đề vướng mắc trong quá trình tham gia soạn thảo dự án, dự thảo thuộc trách nhiệm thẩm định của Bộ Tư pháp.

2. Hằng tuần, thủ trưởng các đơn vị có trách nhiệm báo cáo những vấn đề vướng mắc, phức tạp liên quan đến quan điểm, chính sách của dự án, dự thảo mà đơn vị mình được giao chủ trì thẩm định gửi đến Ban Thư ký trình Lãnh đạo Bộ cho ý kiến chỉ đạo.

Điều 7. Lưu trữ hồ sơ của văn bản đã được thẩm định

1. Hồ sơ của văn bản đã được thẩm định bao gồm: hồ sơ thẩm định được quy định tại Điều 43 của Nghị định số 24/2009/NĐ-CP , biên bản cuộc họp thẩm định, báo cáo thẩm định, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định và các tài liệu khác có liên quan.

2. Hồ sơ của văn bản đã được thẩm định được lưu trữ tại đơn vị chủ trì thẩm định. Sau một năm kể từ khi việc thẩm định kết thúc phải được chuyển cho đơn vị lưu trữ theo quy định hiện hành.

3. Báo cáo thẩm định, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định phải được gửi cho đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định, Văn phòng Bộ, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật. Văn phòng Bộ có trách nhiệm ghi vào Sổ theo dõi công tác thẩm định.

4. Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật có trách nhiệm tổng hợp, thống kê, báo cáo theo định kỳ hàng Quý về việc thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Điều 8. Thẩm định dự án, dự thảo theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và trong trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn

Đối với dự án, dự thảo cần trình cơ quan có thẩm quyền ban hành kịp thời để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của tổ chức, cá nhân hoặc dự án, dự thảo được xây dựng theo thủ tục rút gọn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, thì không thực hiện theo trình tự, thủ tục và thời hạn thẩm định quy định tại Quyết định này.

Chương II

TIÊU CHÍ THẨM ĐỊNH

Điều 9. Thẩm định sự cần thiết ban hành văn bản

Trong nội dung thẩm định về sự cần thiết ban hành văn bản, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá về các vấn đề sau đây của dự án, dự thảo:

1. Lý do của việc ban hành văn bản, bao gồm:

a) Thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng;

b) Quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn;

c) Đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, giải quyết các vấn đề đặt ra của xã hội;

d) Pháp luật hiện hành chưa quy định; đã có quy định nhưng các biện pháp chưa đủ mạnh để giải quyết vấn đề hoặc quy định không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội.

2. Khả năng các quy định của dự án, dự thảo bảo đảm giải quyết vấn đề mà văn bản cần phải giải quyết nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, vị thế đối ngoại của đất nước.

3. Phát biểu về sự cần thiết của các chính sách, quy định mới trong dự án, dự thảo.

Điều 10. Thẩm định đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản

Trong nội dung thẩm định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá về các vấn đề sau đây của dự án, dự thảo:

1. Sự phù hợp giữa đối tượng với phạm vi điều chỉnh của dự án, dự thảo;

2. Sự phù hợp giữa đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự án, dự thảo với chính sách cơ bản của dự án, dự thảo;

3. Sự phù hợp giữa đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự án, dự thảo với các quy định cụ thể của dự án, dự thảo.

Điều 11. Thẩm định sự phù hợp của nội dung dự án, dự thảo với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng

1. Trong nội dung thẩm định về sự phù hợp của nội dung dự án, dự thảo với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá về các vấn đề sau đây của dự án, dự thảo:

a) Những văn kiện của Đảng làm cơ sở cho việc ban hành văn bản;

b) Nội dung của dự án, dự thảo đã bảo đảm thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách được thể hiện trong văn kiện của Đảng.

2. Trong trường hợp phát hiện dự án, dự thảo có quy định chưa phù hợp với nội dung văn kiện của Đảng, nhưng phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân thì báo cáo thẩm định phải nêu rõ vấn đề này và đề xuất cơ quan có thẩm quyền xin ý kiến chỉ đạo của Đảng.

Điều 12. Thẩm định tính hợp hiến, hợp pháp của dự án, dự thảo và tính thống nhất của dự án, dự thảo đối với hệ thống pháp luật và tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

1. Trong nội dung thẩm định về tính hợp hiến, tuỳ thuộc vào nội dung của văn bản được thẩm định, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá về một hoặc một số vấn đề sau đây của dự án, dự thảo:

a) Sự phù hợp của các quy định của dự án, dự thảo với quy định cụ thể, nguyên tắc, tinh thần của Hiến pháp về bản chất của Nhà nước;

b) Sự phù hợp của các quy định của dự án, dự thảo với quy định cụ thể, nguyên tắc cơ bản, tinh thần của Hiến pháp về chế độ kinh tế;

c) Sự phù hợp của các quy định của dự án, dự thảo với quy định cụ thể, nguyên tắc cơ bản, tinh thần của Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;

d) Sự phù hợp của các quy định của dự án, dự thảo với quy định cụ thể, nguyên tắc cơ bản, tinh thần của Hiến pháp về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước.

Trong trường hợp phát hiện dự án, dự thảo có quy định chưa phù hợp với quy định cụ thể, nguyên tắc hoặc tinh thần của Hiến pháp, nhưng phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân thì báo cáo thẩm định phải nêu rõ vấn đề này và đề xuất việc xin ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.

2. Trong nội dung thẩm định về tính hợp pháp, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá về các vấn đề sau đây của dự án, dự thảo:

a) Sự phù hợp của hình thức, nội dung văn bản với thẩm quyền của chủ thể ban hành văn bản;

b) Sự phù hợp của nội dung dự án, dự thảo với quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có giá trị pháp lý cao hơn.

Trong trường hợp phát hiện dự án, dự thảo có quy định không phù hợp với quy định của văn bản có giá trị pháp lý cao hơn, nhưng phù hợp với tình hình thực tế, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân thì báo cáo thẩm định phải nêu rõ vấn đề này và đề xuất việc xin ý kiến của cơ quan có thẩm quyền;

c) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản theo quy định của pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Trong nội dung thẩm định về tính thống nhất, tính đồng bộ của dự án, dự thảo đối với hệ thống pháp luật, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá sự thống nhất giữa quy định của dự án, dự thảo với các quy định của văn bản hiện hành khác do cùng cấp có thẩm quyền ban hành về cùng một vấn đề.

Trong trường hợp phát hiện quy định của dự án, dự thảo không thống nhất với quy định của các văn bản hiện hành khác do cùng cấp có thẩm quyền ban hành về cùng một vấn đề thì báo cáo thẩm định phải phân tích lý do, ưu điểm, nhược điểm của quy định của dự án, dự thảo và đề xuất phương án xử lý.

4. Trong nội dung thẩm định về tính tương thích của dự án, dự thảo văn bản với điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá về các vấn đề sau đây của dự án, dự thảo:

a) Mức độ chuyển hoá các quy định của điều ước quốc tế vào các quy định của dự án, dự thảo;

b) Những cản trở, khó khăn mà quy định của dự án, dự thảo có thể gây ra đối với việc thực hiện điều ước quốc tế và đề xuất hướng giải quyết;

c) Sự phù hợp giữa quy định của dự án, dự thảo với quy định của các điều ước quốc tế có liên quan. Trong trường hợp phát hiện quy định của dự án, dự thảo trái hoặc không thống nhất với quy định của điều ước quốc tế thì báo cáo thẩm định phải nêu rõ vấn đề này và đề xuất hướng xử lý;

d) Sự phù hợp giữa nội dung dự án, dự thảo với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã có kế hoạch tham gia.

Điều 13. Thẩm định tính khả thi của dự án, dự thảo

Trong nội dung thẩm định về tính khả thi của dự án, dự thảo, báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến đánh giá các quy định của dự án, dự thảo dưới các góc độ sau đây:

1. Sự phù hợp giữa quy định của dự án, dự thảo với điều kiện kinh tế - xã hội;

2. Sự toàn diện của các biện pháp, sự tương xứng, hợp lý của các chế tài trong dự án, dự thảo so với yêu cầu giải quyết vấn đề.

Trong trường hợp các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề của dự án, dự thảo gây tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đến các đối tượng khác trong xã hội thì báo cáo thẩm định phải nêu rõ vấn đề này và đề nghị biện pháp khắc phục;

3. Có cơ chế bảo đảm thực thi theo hướng xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục thực hiện;

4. Sự phù hợp giữa quy định của dự án, dự thảo với chủ trương cải cách hành chính;

5. Sự rõ ràng, cụ thể của các quy định trong dự án, dự thảo để có thể hiểu đúng, hiểu thống nhất, thuận tiện khi thực hiện và áp dụng được ngay khi văn bản có hiệu lực thi hành mà không phải ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, trừ trường hợp uỷ quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

6. Sự phù hợp của các quy định của dự án, dự thảo với điều kiện thực tế về nguồn tài chính, nguồn nhân lực để thi hành văn bản; trình độ quản lý, trình độ dân trí.

Điều 14. Thẩm định ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản

Trong nội dung thẩm định về ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo, báo cáo thẩm định phải nêu rõ sự đánh giá về các vấn đề sau đây của dự án, dự thảo:

1. Tính hợp lý, khoa học trong bố cục của dự án, dự thảo;

2. Việc sử dụng nhất quán các thuật ngữ chuyên môn trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành.

Trường hợp trong dự án, dự thảo sử dụng thuật ngữ chuyên ngành, thuật ngữ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh của dự án, dự thảo thì các thuật ngữ này phải được giải thích rõ ràng;

3. Ngôn ngữ được sử dụng trong dự án, dự thảo phải rõ ràng, đơn nghĩa, dễ hiểu;

4. Tuân thủ thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định của pháp luật.

Điều 15. Phát biểu về một số vấn đề khác có liên quan đến dự án, dự thảo

1. Trường hợp dự án, dự thảo còn những vấn đề có ý kiến khác nhau hoặc cần xin ý kiến thì trong báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm định về từng vấn đề và có lập luận rõ ràng.

2. Trường hợp dự án, dự thảo có nội dung liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, thì cơ quan thẩm định thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Luật bình đẳng giới.

Điều 16. Câu hỏi tham khảo khi thẩm định dự án, dự thảo

Để thẩm định dự án, dự thảo theo các tiêu chí quy định tại các điều 9, 10, 11, 12, 13, 14 và 15 của Quyết định này, tham khảo các câu hỏi được nêu tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Quyết định này.

Chương III

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN, DỰ THẢO

Mục 1. TIẾP NHẬN VÀ XỬ LÝ HỒ SƠ THẨM ĐỊNH

Điều 17. Tiếp nhận hồ sơ thẩm định

1. Văn phòng Bộ có trách nhiệm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ thẩm định theo quy định tại Điều 44 của Nghị định số 24/2009/NĐ-CP .

Trong trường hợp hồ sơ thẩm định thiếu một trong các tài liệu quy định tại Điều 43 của Nghị định số 24/2009/NĐ-CP , Văn phòng Bộ yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung hồ sơ.

2. Ngay sau khi nhận đủ hồ sơ thẩm định, căn cứ vào Kế hoạch phân công công tác của Bộ Tư pháp, Văn phòng Bộ chuyển hồ sơ thẩm định đến đơn vị đã được phân công chủ trì tổ chức thẩm định đồng thời gửi đến Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách một bộ hồ sơ.

Trong trường hợp chưa có đơn vị nào được phân công chủ trì tổ chức thẩm định dự án, dự thảo, Văn phòng Bộ có trách nhiệm kịp thời báo cáo Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách để phân công đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định.

Điều 18. Thời hạn thẩm định và gửi báo cáo thẩm định

Các thời hạn tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, phân công đơn vị chủ trì thẩm định, tổ chức thẩm định, thành lập Hội đồng thẩm định, tổ chức cuộc họp của Hội đồng thẩm định, chuẩn bị báo cáo thẩm định, gửi báo cáo thẩm định được thực hiện theo Phụ lục số 2 và Phụ lục số 3 ban hành kèm theo Quyết định này.

Điều 19. Gửi báo cáo thẩm định

Văn phòng Bộ có trách nhiệm gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan chủ trì soạn thảo, Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng, Cục công nghệ thông tin.

Cục công nghệ thông tin có trách nhiệm đăng tải báo cáo thẩm định tại mục Văn bản thẩm định trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp để tham khảo trong phạm vi nội bộ Bộ Tư pháp.

Điều 20. Tiếp nhận báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định

1. Văn phòng Bộ tiếp nhận báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định do cơ quan chủ trì soạn thảo gửi đến Bộ Tư pháp, lưu tại Văn phòng Bộ bản gốc, đồng thời gửi bản sao đến Thứ trưởng phụ trách và đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định.

2. Đơn vị chủ trì thẩm định theo dõi việc tiếp thu, chuẩn bị ý kiến và báo cáo Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách về việc tiếp thu ý kiến thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Mục 2. THẨM ĐỊNH DỰ THẢO TRONG TRƯỜNG HỢP KHÔNG THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH

Điều 21. Tổ chức thẩm định tại các đơn vị

1. Lãnh đạo đơn vị được phân công thẩm định văn bản giao nhóm chuyên viên hoặc Phòng thuộc đơn vị nghiên cứu, thẩm định văn bản, trong đó chuyên viên, Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng đã trực tiếp tham gia soạn thảo dự án, dự thảo được cử làm Báo cáo viên.

Cuộc họp trong nội bộ đơn vị thẩm định được tổ chức có sự tham gia của các chuyên viên được phân công nghiên cứu dự án, dự thảo văn bản được thẩm định. Tuỳ theo tính chất của dự án, dự thảo được thẩm định, lãnh đạo đơn vị có thể triệu tập các chuyên viên khác thuộc nhóm nghiên cứu, toàn thể đơn vị tham gia cuộc họp hoặc tổ chức thảo luận trong phạm vi lãnh đạo đơn vị.

2. Đối với dự án, dự thảo còn có nội dung chưa rõ ràng hoặc còn nhiều vấn đề có ý kiến khác nhau, thì thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định chủ động liên hệ với cơ quan chủ trì soạn thảo đề nghị thuyết trình về dự án, dự thảo hoặc cung cấp thêm thông tin và tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo.

Trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định đề nghị Lãnh đạo Bộ tổ chức cuộc họp với sự tham gia của đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo và đại diện các cơ quan, tổ chức hữu quan để thảo luận, trao đổi ý kiến về những vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có ý kiến khác nhau.

3. Thủ trưởng đơn vị phối hợp thẩm định có trách nhiệm cử chuyên viên trực tiếp tham gia thẩm định hoặc tổ chức nghiên cứu dự án, dự thảo trong đơn vị mình và gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến đơn vị chủ trì tổ chức thẩm định.

Điều 22. Tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định

1. Trong trường hợp không thành lập Hội đồng thẩm định, theo đề xuất của đơn vị chủ trì thẩm định, Thứ trưởng phụ trách quyết định tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, các nhà quản lý, nhà khoa học và chuyên gia am hiểu về vấn đề chuyên môn thuộc nội dung dự án, dự thảo.

Cuộc họp tư vấn thẩm định do Lãnh đạo Bộ chủ tọa và được tiến hành theo trình tự sau đây:

a) Đại diện đơn vị được giao chủ trì thẩm định cung cấp thông tin liên quan tới dự án, dự thảo và nêu những vấn đề cần thảo luận;

b) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo hoặc cung cấp thêm thông tin và tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo;

c) Các thành viên tham dự cuộc họp thảo luận và phát biểu ý kiến, tập trung vào những vấn đề thuộc nội dung thẩm định và theo tiêu chí quy định tại Chương II của Quyết định này;

d) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình thêm về dự án, dự thảo;

đ) Chủ toạ kết luận.

Ý kiến tham gia của các thành viên tham dự cuộc họp và kết luận của Lãnh đạo Bộ phải được thể hiện trong biên bản cuộc họp.

2. Đối với dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực thì đơn vị chủ trì thẩm định tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Tư pháp, đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.

Điều 23. Chuẩn bị dự thảo báo cáo thẩm định

1. Căn cứ vào nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật ban hành văn bản và tiêu chí thẩm định quy định tại Chương II của Quyết định này, ý kiến của các đơn vị phối hợp thẩm định, trên cơ sở kết luận của chủ toạ cuộc họp tư vấn thẩm định (nếu có), đơn vị chủ trì thẩm định có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo báo cáo thẩm định.

2. Trong quá trình chuẩn bị dự thảo báo cáo thẩm định, nếu có vấn đề vướng mắc thì lãnh đạo đơn vị chủ trì thẩm định phải kịp thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách.

3. Ý kiến thẩm định của các đơn vị phối hợp thẩm định và biên bản cuộc họp tư vấn thẩm định phải được đưa vào hồ sơ trình Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng phụ trách. Khi trình dự thảo báo cáo thẩm định, lãnh đạo đơn vị chủ trì thẩm định phải ký tắt vào dự thảo báo cáo thẩm định.

Mục 3. THẨM ĐỊNH DỰ ÁN, DỰ THẢO TRONG TRƯỜNG HỢP THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH

Điều 24. Thành lập Hội đồng thẩm định

1. Hội đồng thẩm định được thành lập trong các trường hợp sau đây:

a) Thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định có nội dung phức tạp và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực;

b) Thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo.

2. Đơn vị chủ trì thẩm định đề xuất việc thành lập Hội đồng thẩm định, dự kiến các thành viên của Hội đồng thẩm định, thời gian tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định trình Lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định. Số lượng, thành phần Hội đồng thẩm định thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Chương IV Nghị định số 24/2009/NĐ-CP.

Đối với dự án, dự thảo do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì thành phần của Hội đồng thẩm định phải có đại diện của Vụ Pháp luật quốc tế để phát biểu về tính tương thích giữa quy định của dự án, dự thảo với điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

3. Đơn vị chủ trì thẩm định có trách nhiệm gửi quyết định thành lập Hội đồng thẩm định cùng hồ sơ thẩm định tới từng thành viên của Hội đồng; gửi giấy mời họp tới thành viên Hội đồng thẩm định và cơ quan chủ trì soạn thảo.

Điều 25. Cuộc họp thẩm định của Hội đồng thẩm định

1. Cuộc họp thẩm định dự án, dự thảo do Chủ tịch Hội đồng thẩm định triệu tập và chủ tọa. Cuộc họp thẩm định chỉ được tiến hành trong trường hợp có mặt ít nhất 1/2 (một phần hai) tổng số thành viên của Hội đồng thẩm định. Chủ tịch Hội đồng thẩm định chỉ định Thư ký cuộc họp của Hội đồng thẩm định.

Trong trường hợp không thể tham gia cuộc họp thẩm định, thành viên Hội đồng thẩm định phải gửi Chủ tịch Hội đồng thẩm định ý kiến thẩm định của mình bằng văn bản.

2. Cuộc họp thẩm định được tiến hành theo trình tự sau đây:

a) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo trình bày những nội dung cơ bản của dự án, dự thảo;

b) Đại diện đơn vị chủ trì thẩm định cung cấp thông tin liên quan tới dự án, dự thảo và nêu những vấn đề cần thảo luận đối với trường hợp thẩm định dự án, dự thảo văn bản liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực;

c) Thành viên Hội đồng thẩm định thảo luận về những nội dung được quy định tại khoản 3 Điều 36 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và theo các tiêu chí thẩm định quy định tại Chương II của Quyết định này;

d) Trong trường hợp thành viên Hội đồng thẩm định vắng mặt, Thư ký Hội đồng thẩm định đọc ý kiến thẩm định của thành viên đó.

4. Thư ký Hội đồng thẩm định có trách nhiệm ghi biên bản cuộc họp của Hội đồng thẩm định. Biên bản phải ghi đầy đủ những vấn đề được thảo luận, các ý kiến phát biểu tại cuộc họp và kết luận của Chủ tịch Hội đồng thẩm định.

Biên bản cuộc họp phải được Chủ tịch và Thư ký Hội đồng thẩm định ký.

Điều 26. Chuẩn bị báo cáo thẩm định

Trên cơ sở biên bản cuộc họp của Hội đồng thẩm định, ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng thẩm định, căn cứ vào nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chí thẩm định quy định tại Chương II Quyết định này, Thư ký Hội đồng thẩm định có trách nhiệm chuẩn bị dự thảo báo cáo thẩm định trình Chủ tịch Hội đồng thẩm định.

Chương IV

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC THẨM ĐỊNH DỰ THẢO QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ DO BỘ TƯ PHÁP CHỦ TRÌ SOẠN THẢO VÀ DỰ THẢO THÔNG TƯ CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP

Điều 27. Trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp

1. Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo và dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, trừ trường hợp các đơn vị khác được giao chủ trì thẩm định.

Trong trường hợp dự thảo quyết định, dự thảo thông tư có nội dung phức tạp, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật hoặc đơn vị khác được giao chủ trì thẩm định có thể yêu cầu các đơn vị phối hợp thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.

2. Trình tự, thủ tục thẩm định thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp được áp dụng theo các quy định của Nghị định số 24/2009/NĐ-CP và Quyết định này.

Điều 28. Tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định dự thảo quyết định, thông tư

Cuộc họp tư vấn thẩm định dự thảo quyết định, thông tư được tiến hành theo trình tự sau đây:

1. Đại diện đơn vị chủ trì soạn thảo trình bày những nội dung cơ bản của dự thảo; cung cấp những thông tin có liên quan tới dự thảo và nêu những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về dự thảo;

2. Thành viên tham dự cuộc họp thảo luận về những vấn đề thuộc nội dung thẩm định, những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

3. Đơn vị chủ trì soạn thảo giải trình về các vấn đề đã được thảo luận;

4. Chủ tọa cuộc họp kết luận.

Điều 29. Ký, gửi báo cáo thẩm định dự thảo quyết định, thông tư

1. Lãnh đạo Bộ ký báo cáo thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo. Thủ trưởng đơn vị được giao chủ trì thẩm định ký báo cáo thẩm định dự thảo thông tư.

2. Văn phòng Bộ có trách nhiệm gửi báo cáo thẩm định tới đơn vị chủ trì soạn thảo, Cục Công nghệ thông tin, Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ trưởng, Thứ trưởng phụ trách. Báo cáo thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ còn phải được gửi đến Văn phòng Chính phủ.

Chương V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 30. Hiệu lực thi hành

1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 4 năm 2010.

2. Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Quyết định này. Trong quá trình thực hiện, trường hợp có vướng mắc, thủ trưởng các đơn vị có liên quan kịp thời phản ánh về Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật để nghiên cứu, tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng xem xét, giải quyết./.

 

 

Nơi nhận:
- Các đơn vị thuộc bộ;
- Các Thứ trưởng (để chỉ đạo thực hiện);
- L­ưu VT, Vụ PLHSHC(5b).

BỘ TRƯỞNG




Hà Hùng Cường

 

 

FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 1048/QĐ-BTP năm 2010 về thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành

Số hiệu: 1048/QĐ-BTP
Loại văn bản: Quyết định
Ngày ban hành: 08/04/2010
Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
Người ký: Hà Hùng Cường
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 15/04/2010
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Quyết định 1048/QĐ-BTP năm 2010 về thẩm định...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký